Các chính sách, chiến lược, sự phát triển công nghệ… là những yếu tố bất định, khó lường và có tác động mạnh đến sự phát triển của thị trường xe ô tô điện (EV). Theo Viện Dầu khí Việt Nam (VPI), việc theo dõi thị trường EV thông qua các chỉ dấu (signpost), xác định chỉ số EVI (Electric Vehicles Index) sẽ hỗ trợ các doanh nghiệp trong chuỗi giá trị lĩnh vực EV đưa ra quyết định trong hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như xu hướng mua sắm tiêu dùng của các cá nhân.

Các chỉ dấu để xác định chỉ số thị trường xe ô tô điện Việt Nam. Ảnh: VPI

Để theo sát sự thay đổi của thị trường xe điện, VPI đã nghiên cứu, tham vấn ý kiến chuyên gia trong và ngoài nước để đưa ra chỉ dấu, đánh giá mức độ quan trọng của từng chỉ dấu (thông qua trọng số của các chỉ dấu); cập nhật liên tục hiện trạng các chỉ dấu của thị trường EV Việt Nam và đưa ra chỉ số EVI (Electric Vehicles Index) để đánh giá hiện trạng thị trường EV trong nước.
Theo kết quả nghiên cứu của VPI, chỉ số EVI của Việt Nam trong Quý III/2021 đạt 1,6/5 điểm (tương ứng với 32%) thông qua đánh giá các chỉ dấu gồm: chính sách, mạng lưới trạm sạc, chi phí sở hữu phương tiện (giá xe, chi phí vận hành bảo dưỡng, giá trị bán lại, thuế phí khác), thị hiếu (độ tuổi, lựa chọn thay thế), GDP/đầu người, công nghệ (tuổi thọ pin, thời gian sạc/số km di chuyển và mức độ tương thích giữa các cổng sạc của các hãng xe) và thị trường EV khu vực.
Về chính sách, Việt Nam chưa có lộ trình/mục tiêu phát triển xe điện, chưa có hệ thống các tiêu chuẩn và quy chuẩn đầy đủ để phản ánh cụ thể tiêu chuẩn kỹ thuật an toàn của các bộ phận, hệ thống và các xe hoàn chỉnh. Dự thảo Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn tới năm 2045 (Quy hoạch điện VIII) cũng chưa xét đến phụ tải là xe điện.
Tuy nhiên, Việt Nam đã có chính sách giảm chi phí sở hữu EV như: Miễn phí trước bạ với xe bus sử dụng năng lượng sạch, khuyến khích phát triển phương tiện vận tải hành khách công cộng thân thiện với môi trường; thuế tiêu thụ đặc biệt của xe ô tô chạy bằng xăng kết hợp năng lượng điện chỉ bằng 70% xe động cơ đốt trong (ICE) cùng dung tích, xe ô tô điện được áp mức thuế từ 5 – 15% tùy số chỗ của xe (trong khi đó thuế áp dụng cho xe ICE từ 10 – 150% tùy theo số chỗ và dung tích xi lanh).
Về thị trường khu vực châu Á, các quốc gia có định hướng, lộ trình phát triển EV, trong đó dẫn đầu là Trung Quốc với 22 doanh nghiệp sản xuất EV, 9 doanh nghiệp sản xuất phần mềm cho EV.
Về lựa chọn thay thế, có 47 hãng xe sản xuất ô tô điện trên thế giới, đứng đầu trong công nghệ EV là Chevrolet, Ford, Volkswagen (Porsche), Kia, Tesla, BMW, Nissan…Trong khi đó, Việt Nam có 1 mẫu xe ô tô điện VF e34 của Vinfast (ra mắt ngày 15/10/2021), 2 mẫu còn lại của Vinfast dự kiến ra mắt vào năm 2022 – 2023, còn lại là xe nhập khẩu theo đặt hàng, chưa có đại lý phân phối chính thức.
Về mạng lưới trạm sạc, VinFast có khoảng 500 trạm sạc xe điện (tính đến tháng 6/2021), đã công bố bản đồ phân bố và đang tiếp tục xây dựng 1.000 trạm sạc trong cả nước. Ngoài ra, có thêm 2 trạm sạc xe điện tại cửa hàng xăng dầu PV OIL Đà Nẵng.
Chi phí sở hữu xe điện trung bình gồm: giá mua xe, chi phí vận hành bảo dưỡng, giá trị bán lại và các loại thuế phí khác. Tại Việt Nam, tỷ lệ giá dòng xe VFe34 (690 triệu đồng) của VinFast so với các dòng xe ICE tương đương ở mức 0,7 – 0,9 khi áp dụng các chính sách hỗ trợ của Vinfast, chính sách thuê pin. Con số này tăng lên 1,2 nếu không áp dụng các chính sách trên.
Theo đánh giá của VPI, Việt Nam có tiềm năng phát triển thị trường EV trong tương lai bởi hiện tại tỷ lệ sở hữu ô tô của Việt Nam ở mức 23 ô tô/1.000 người, con số này chỉ bằng 1/10 của Thái Lan và 1/20 của Malaysia. Tuy nhiên, ở giai đoạn này, các doanh nghiệp dự định tham gia chuỗi giá trị thị trường EV nên tiếp tục theo dõi, cập nhật các chỉ dấu và EVI để có cơ sở ra quyết định phù hợp.
IHS Markit dự báo đến năm 2027, chi phí sản xuất xe điện sẽ ngang bằng với chi phí sản xuất xe ICE ở Trung Quốc và châu Âu. Trong số 89 triệu xe được bán ra vào năm 2030, dự báo sẽ có 23,5 triệu xe điện (chiếm gần 27%).
Báo cáo “Năng lượng tái tạo và năng lượng mới” (Renewable & New Energy) do Viện Dầu khí Việt Nam (VPI) nghiên cứu thực hiện, tập trung phân tích xu hướng chuyển dịch năng lượng, thị trường xe điện, năng lượng mặt trời, hydrogen và điện gió ngoài khơi… Thông tin chi tiết liên hệ chuyên gia Nghiêm Thị Ngoan (ngoannt@vpi.pvn.vn).

Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Việt Nam tại CHLB Đức TS. Nguyễn Minh Vũ mới đây đã làm việc với Großmann Ingenieur Consult GmbH (GICON®) và Viện Dầu khí Việt Nam (VPI) để thúc đẩy hợp tác phát triển lĩnh vực năng lượng tái tạo tại Việt Nam.

TS. Nguyễn Minh Vũ – Đại sứ Việt Nam tại Đức làm việc với GICON và VPI về việc nghiên cứu phát triển các turbine gió nổi ngoài khơi Việt Nam

Cùng tham dự cuộc họp, về phía Đại sứ quán Việt Nam tại Đức có đại diện các lĩnh vực thương mại, đầu tư, quốc phòng; Diễn đàn đổi mới sáng tạo và kinh tế Đức – Việt (DVIW)…
Theo Biên bản ghi nhớ đã ký kết, VPI và GICON® sẽ hợp tác nghiên cứu, ứng dụng các công nghệ mới ở Việt Nam, trọng tâm là sản xuất điện gió ngoài khơi và sử dụng khi không được huy động để sản xuất hydro bằng nước biển; sử dụng công nghệ sinh học và điện phân nước để chuyển hóa sinh khối thành methane sinh học…
Hai bên sẽ phát triển các công nghệ mới để sản xuất hydro và điện từ các nguồn tái tạo hoặc phát triển hơn nữa các công nghệ của GICON® cho phù hợp với điều kiện Việt Nam. Trọng tâm chính đầu tiên, GICON® và VPI đang tập trung phát triển các dự án thử nghiệm trong lĩnh vực điện gió ngoài khơi.
Theo TS. Frank Adam, Trưởng Ban Kỹ thuật Năng lượng gió của GICON®, Việt Nam có tiềm năng phát triển các trang trại turbine gió nổi (WTG) với công suất hơn 30 GW ở độ sâu từ 60 m nước trở lên. TS. Phạm Quý Ngọc, chuyên gia của VPI, đã chia sẻ thông tin về việc xây dựng cơ sở dữ liệu, đánh giá tiềm năng điện gió ngoài khơi Việt Nam, các địa điểm khả thi cho WTG. Hai bên đặt mục tiêu xây dựng các dự án thí điểm turbine gió nổi ngoài khơi Việt Nam trong 5 năm tới.
Đại sứ Nguyễn Minh Vũ khẳng định Chính phủ Việt Nam ưu tiên phát triển ngành năng lượng theo hướng bền vững với mục tiêu đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia và giảm phát thải khí nhà kính, đồng thời ủng hộ sự hợp tác chặt chẽ giữa GICON® và VPI.
Đại sứ cho biết trong 6 tháng đầu năm 2021, năng lượng tái tạo chiếm tỷ trọng khoảng 11,4% tổng sản lượng điện của Việt Nam và có xu hướng ngày càng tăng. Về điện gió, có 9 trang trại điện gió đang vận hành tại Việt Nam với tổng công suất 304,6 MW.
Đại sứ tin tưởng GICON® và VPI sẽ đẩy mạnh hợp tác, phù hợp với các tiềm năng, điều kiện của Việt Nam, trong đó trọng tâm là sản xuất điện gió ngoài khơi, qua đó đóng góp vào việc cải thiện môi trường, chống biến đổi khí hậu cũng như tăng cường quan hệ kinh tế, thương mại và đầu tư giữa hai nước.

GS.TS. Jochen Grossmann – Chủ tịch GICON® đánh giá Việt Nam có tiềm năng rất lớn trong phát triển năng lượng gió

GS.TS. Jochen Grossmann – Chủ tịch GICON® cho biết với lợi thế đường biển dài hơn 3.200km và tốc độ gió trung bình ở Biển Đông Việt Nam hằng năm lớn hơn 6m/s ở độ cao 65m, Việt Nam có tiềm năng rất lớn trong phát triển năng lượng gió. GICON® tin tưởng có thể hợp tác, hỗ trợ Việt Nam đẩy mạnh phát triển các nguồn năng lượng tái tạo.
Khẳng định “VPI là đối tác quan trọng của GICON® tại Việt Nam”, GS.TS. Jochen Grossmann cho biết từ sau khi ký Biên bản ghi nhớ, GICON® và VPI đã tích cực hợp tác nghiên cứu, trao đổi kinh nghiệm, thảo luận về các dự án hợp tác cụ thể tại Việt Nam.
TS. Nguyễn Anh Đức – Viện trưởng VPI cho biết GICON® có thế mạnh về công nghệ, kỹ thuật và kinh nghiệm trong phát triển năng lượng tái tạo, là đối tác quan trọng của VPI. Trong thời gian tới, VPI sẽ tiếp tục hợp tác chặt chẽ với GICON® để thúc đẩy triển khai các dự án hợp tác theo Biên bản ghi nhớ đã ký kết.
Sau khi làm việc tại Dresden, Đại sứ Nguyễn Minh Vũ cùng đoàn công tác của GICON® và VPI đã đến thăm Trang trại điện gió Klettwitz. Đây là dự án điện lớn nhất ở Đức, có thể được coi là dự án kiểu mẫu để quy hoạch trang trại điện gió ở Việt Nam.

Đoàn công tác của Đại sứ quán Việt Nam tại Đức, GICON® và VPI làm việc tại trụ sở GICON®

Ngày 5/8/2021, Viện Dầu khí Việt Nam có Thông báo số 4336/TB-VDKVN về việc tuyển sinh và học bổng đào tạo trình độ tiến sĩ năm 2021. Cụ thể, VPI xét tuyển 2 nghiên cứu sinh chuyên ngành Kỹ thuật dầu khí (9520604) và 1 nghiên cứu sinh chuyên ngành Kỹ thuật hóa học (9520301). Thời gian xét tuyển từ ngày 15 – 31/8/2021.

Thời gian đào tạo 3 năm tập trung đối với nghiên cứu sinh có bằng Thạc sĩ và 4 năm tập trung đối với nghiên cứu sinh có bằng Đại học (loại giỏi). Kinh phí cho thời gian đào tạo chính thức là 236.000.000 đồng (chưa bao gồm chi phí đăng bài báo, thực tập ở nước ngoài và chi phí thực nghiệm).
Các ứng viên có thể đăng ký học bổng VPI ngay từ khi nộp hồ sơ xét tuyển: (1) Học bổng loại 1 có giá trị tương đương 100% mức học phí và chi phí hỗ trợ hàng tháng theo hình thức thuê khoán chuyên môn để thực hiện các nhiệm vụ khoa học công nghệ của VPI; (2) Học bổng loại 2 có giá trị tương đương 100% mức học phí.
Hướng nghiên cứu chuyên sâu được cấp học bổng chuyên ngành Kỹ thuật dầu khí gồm: Cấu trúc – kiến tạo và phân tích bể trầm tích; Môi trường trầm tích, cổ địa lý tướng đá, mô hình hệ thống dầu khí của các bể trầm tích; Nghiên cứu các phương pháp xử lý số liệu địa chấn (địa chấn địa tầng, thuộc tính địa chấn,…) để giải quyết các bài toán địa chất cụ thể; Nghiên cứu áp dụng các giải pháp kỹ thuật, công nghệ, vật liệu mới nhằm gia tăng hệ số thu hồi, tận thu khai thác các mỏ dầu…
Hướng nghiên cứu chuyên sâu được cấp học bổng chuyên ngành Kỹ thuật hóa học gồm: Phát triển các loại năng lượng tái tạo; Phát triển công nghệ và xúc tác chuyển hóa khí thiên nhiên giàu CO2 thành hydro, nhiên liệu và hóa chất; Nghiên cứu công nghệ hiệu quả để thu hồi, vận chuyển, tàng trữ CO2 tại các cơ sở sản xuất của PVN; Phát triển chuỗi giá trị hydro xanh và lam cho nhà máy sản xuất phân đạm và đánh giá phát thải carbon cho toàn chu trình sản xuất và sử dụng phân đạm
VPI được Bộ Giáo dục và Đào tạo cấp phép đào tạo trình độ tiến sĩ chuyên ngành Kỹ thuật Dầu khí từ năm 2012 và chuyên ngành Kỹ thuật Hóa học từ năm 2017, với mục tiêu tăng cường sự gắn kết giữa công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học và ứng dụng.

Thông báo tuyển sinh: Xem nội dung đầy đủ tại đây.

Hồ sơ dự tuyển: Xin mời tải về tại đây

Liên hệ tư vấn tuyển sinh:
Ban Tổ chức Nhân sự, Viện Dầu khí Việt Nam
Địa chỉ: Tầng 16, Tòa nhà Viện Dầu khí Việt Nam, số 167 Trung Kính, Phường Yên Hòa, Quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội.
Điện thoại: 024.37843061/Ext. 1493 (Mrs. Trần Thị Vui, Di động: 0972686464, Email: vuitt@vpi.pvn.vn).

 

Ngày 21/6/2021, Chủ tịch UBND Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) đã đi kiểm tra công tác tiêm vaccine ngừa Covid-19.

Chủ tịch UBND Thành phố Hồ Chí Minh kiểm tra công tác tiêm vaccine tại VPI phía Nam. Nguồn: HTV9

Tại điểm Trung tâm Thể dục Thể thao (Quận Bình Thạnh), Chủ tịch UBND Thành phố Hồ Chí Minh cho biết: “Chúng ta chỉ có 5 ngày, đang triển khai tiêm hơn 800.000 liều vaccine cho các đối tượng. Hiện lượng vaccine về có giới hạn cho nên phải tính toán đối tượng ưu tiên nào được tiêm trước, các đối tượng còn lại sẽ triển khai tiêm đợt 2. Thành phố rất quan tâm đến vấn đề tiêm chủng cho người dân và đang tích cực đàm phán để có vaccine sớm nhất tiêm cho tất cả các đối tượng”.
TP.HCM đang triển khai các phương án phòng chống dịch Covid-19 với phương châm “Mỗi người dân là một chiến sĩ”. Trong đợt tiêm lần này, TP.HCM triển khai quy mô lớn với trên 1.000 điểm tiêm vaccine ngừa Covid-19.
Kiểm tra công tác tiêm vaccine tại điểm Viện Dầu khí Việt Nam – VPI (Khu công nghệ cao TP.HCM), Chủ tịch UBND TP.HCM Nguyễn Thành Phong yêu cầu các quy trình phải được đảm bảo, trường hợp nào không đảm bảo về huyết áp, bệnh lý nền,… phải ngồi chờ phối hợp với cơ quan chuyên môn để kiểm tra và sàng lọc lại.
Theo thống kê, có khoảng 1.200 người lao động của 3 đơn vị VPI, Sanofi, Transimex được tiêm vaccine trong ngày 21/6/2021. Dự kiến sẽ có 7.000 người được tiêm chủng trong 3 ngày tại điểm tiêm VPI phía Nam.
Công tác tiêm chủng được chuẩn bị kỹ lưỡng, tuân thủ nghiêm ngặt các quy trình phòng dịch, đảm bảo giãn cách theo Chỉ thị của UBND TP.HCM.
Anh Nguyễn Mạnh Hùng (Trung tâm Phân tích Thí nghiệm VPI-Labs) chia sẻ: “Hôm nay tôi rất vui mừng đã tiêm chủng vaccine ngừa Covid-19. Đối với công việc của chúng tôi, tiếp cận với những người làm việc trực tiếp ở các giàn khoan cho nên là vấn đề được tiêm phòng rất là quan trọng”.
Chị Ngô Thúy Phượng (Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Chế biến Dầu khí, VPI-PVPro) cho biết: “Tôi hoàn toàn tin tưởng vào chính sách của Chính phủ và Bộ Y tế. Tôi thấy là tiêm chủng là việc cực kỳ cần thiết để có thể sớm đẩy lùi được dịch bệnh”.
Trong đợt tiêm lần này, tất cả công nhân lao động ở khu công nghiệp, khu chế xuất và khu công nghệ cao tại TP.HCM đều được tiêm vaccine ngừa Covid-19. Tổng cộng số người được tiêm ở Khu công nghệ cao là hơn 46.000 người, các khu công nghiệp, khu chế xuất là gần 280.000 người.

Với Đề tài Nghị định thư “Nghiên cứu chế tạo xúc tác cracking công nghiệp trên cơ sở zeolite Y và zeolite ZSM-5 đa mao quản”, TS. Vũ Xuân Hoàn (Viện Dầu khí Việt Nam) và nhóm nghiên cứu đã bước đầu giải được bài toán giúp Nhà máy Lọc dầu Dung Quất vừa xử lý được nguyên liệu dầu thô đầu vào chất lượng thấp nhưng vẫn có sản phẩm đầu ra đạt chất lượng cao và gia tăng lợi nhuận.

Ảnh SEM của mẫu xúc tác cracking đa mao quản (DMQ-A) do VPI hợp tác nghiên cứu. Ảnh: VPI

Nhà máy Lọc dầu Dung Quất được xây dựng và đưa vào vận hành thương mại từ năm 2009, được thiết kế để sử dụng nguồn nguyên liệu đầu vào là dầu thô Bạch Hổ. Tuy nhiên, sản lượng khai thác của mỏ Bạch Hổ ngày càng sụt giảm khiến Nhà máy Lọc dầu Dung Quất phải phối trộn dầu thô Bạch Hổ với các loại dầu chất lượng kém hơn, dẫn đến nguyên liệu cặn nặng (residue) cho Phân xưởng cracking xúc tác tầng sôi (RFCC) có xu hướng ngày càng xấu (cặn nặng hơn, khó cracking hơn, hàm lượng tạp chất kim loại cao hơn), khiến chất xúc tác nhanh mất hoạt tính.
Do chất lượng nguyên liệu đầu vào giảm, Nhà máy Lọc dầu Dung Quất cần sử dụng khối lượng xúc tác tăng gấp 2 – 3 lần so với khi chế biến dầu thô Bạch Hổ. Hiện nay, lượng xúc tác FCC thải của nhà máy vào khoảng 18 – 20 tấn/ngày và biện pháp xử lý chủ yếu là chôn lấp, không chỉ ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế mà còn tiềm ẩn nguy cơ ảnh hưởng đến môi trường.
Thực tế này đặt ra nhiệm vụ cho Viện Dầu khí Việt Nam (VPI) là phát triển thế hệ xúc tác cracking mới dựa trên zeolite đa mao quản để chế biến hiệu quả nguồn nguyên liệu chất lượng xấu của Nhà máy Lọc dầu Dung Quất với mục tiêu tăng hiệu suất propylene (do biên lợi nhuận hóa dầu cao hơn so với lọc dầu) và tăng trị số octane của xăng.
Nhờ được tuyển chọn tham gia vào Chương trình quan hệ đối tác quốc tế về đổi mới bền vững (CLIENT II) với CHLB Đức và Đề tài Nghị định thư “Nghiên cứu chế tạo xúc tác cracking công nghiệp trên cơ sở zeolite Y và zeolite ZSM-5 đa mao quản” hợp tác giữa Đức và Việt Nam, nhóm nghiên cứu của TS. Vũ Xuân Hoàn đã có cơ hội hợp tác với Công ty CP Lọc hóa dầu Bình Sơn (BSR, đơn vị quản lý và vận hành Nhà máy Lọc dầu Dung Quất), Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Công nghệ Dresden (Technische Universität Dresden) và Công ty AIOTEC GmbH (Đức).
Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích các phương pháp chế tạo zeolite Y và zeolite ZSM-5 đa mao quản, phương pháp biến tính nâng cao độ bền thủy nhiệt, độ bền hoạt tính, công nghệ sấy phun để tạo hạt vi cầu cho xúc tác công nghiệp FCC, nhóm nghiên cứu của TS. Vũ Xuân Hoàn đã hợp tác với đối tác Đức xây dựng quy trình chế tạo xúc tác cracking công nghiệp từ zeolite Y và zeolite ZSM-5 đa mao quản quy mô phòng thí nghiệm. Trọng tâm nghiên cứu là xây dựng quy trình tổng hợp NaY từ nguồn hóa chất công nghiệp, quy biến tính zeolite Y và zeolite ZSM-5 thành zeolite Y và zeolite ZSM-5 đa mao quản, nâng cao độ bền thủy nhiệt và độ bền hoạt tính cho zeolite đa mao quản; xây dựng quy trình sấy phun để tạo hạt xúc tác cracking công nghiệp phù hợp cho thiết bị cracking tầng sôi và đánh giá hiệu quả của xúc tác chế tạo so với xúc tác thương mại.
Nhóm nghiên cứu xác định điểm mấu chốt của nghiên cứu là mở rộng mao quản của zeolite, thành phần quan trọng nhất của xúc tác FCC, chiếm khoảng từ 10 – 50% khối lượng xúc tác, quyết định khả năng cracking của xúc tác cũng như hiệu suất sản phẩm xăng và khí. Nhóm nghiên cứu tiến hành nghiên cứu tổng hợp zeolite tiêu chuẩn, sau đó áp dụng thêm quá trình biến tính để tách chọn lọc một phần silic và nhôm khỏi khung mạng nhằm tạo ra các kênh mao quản trung bình bên trong tinh thể zeolite, từ đó giúp cải thiện tốc độ khuếch tán cũng như tăng khả năng tiếp cận các tâm hoạt tính nằm sâu bên trong các vi mao quản.
Zeolite NaY có thể dễ dàng chế tạo từ muối nhôm, song do nguyên liệu này Việt Nam chưa có sản phẩm thương mại, nên nhóm nghiên cứu quyết định bắt đầu với hydroxide nhôm, loại nguyên liệu sẵn có trong nước nhưng thô hơn, khó chế tạo hơn và gần như rất ít nghiên cứu. Nhóm nghiên cứu của TS. Vũ Xuân Hoàn đã xây dựng thành công “Quy trình chế tạo zeolite NaY từ nguồn thủy tinh lỏng và hydroxide nhôm tại Việt Nam bằng phương pháp tạo mầm tinh thể”, có đơn đăng ký sáng chế được Cục Sở hữu Trí tuệ chấp nhận ở trong nước, đồng thời cũng đang trong quá trình đăng ký bảo hộ sáng chế ở CHLB Đức.
Sau khi đã chế tạo được zeolite Y và zeolite ZSM-5 đa mao quản, nhóm nghiên cứu đối mặt với thách thức là kích thước hạt xúc tác chưa đạt tối ưu (40 – 80 µm với tỷ lệ khoảng 60%). Với thiết bị sấy phun quy mô phòng thí nghiệm, bước tạo hạt xúc tác cracking này là thách thức đối với cả các nhà nghiên cứu Đức và Việt Nam. Xúc tác cracking công nghiệp đòi hỏi rất nhiều thông số về vật lý, hóa lý và yêu cầu rất cao về tính lưu biến. Nhóm nghiên cứu thậm chí đã mạo hiểm nâng tỷ lệ rắn trong nguyên liệu sấy phun lên khoảng 15 – 20% khối lượng – yếu tố có thể gây tắc vòi sấy phun, để có thể tăng kích thước hạt xúc tác lên tỷ lệ tối ưu.
Dưới điều kiện khắc nghiệt của quá trình tái sinh xúc tác trong Phân xưởng RFCC (khoảng 700 – 800 oC, có mặt hơi nước), cấu trúc zeolite dần bị phá hủy, làm mất hoạt tính. Để nâng cao độ bền thủy nhiệt và hoạt tính, nhóm nghiên cứu đã thêm bước bền hóa (trao đổi với ion đất hiếm để nâng cao độ bền cho zeolite đa mao quản, biến tính với P để nâng cao độ bền cho ZSM-5 đa mao quản) để hạn chế sự phá vỡ cấu trúc zeolite khi hoạt động trong điều kiện khắc nghiệt.
So sánh với các mẫu xúc tác đối chứng trên thị trường, sau khi giảm hoạt tính, xúc tác đa mao quản của nhóm nghiên cứu có diện tích bề mặt mesopore lớn hơn (125 m2/g), có nghĩa là xúc tác có khả năng cracking phân đoạn cặn nặng tốt hơn, độ chuyển hóa cao hơn so với xúc tác hiện tại mà Nhà máy Lọc dầu Dung Quất đang sử dụng và có hiệu quả tương đương với xúc tác đa mao quản mới của Rive/Grace Davison. Đặc biệt, do bổ sung zeolite ZSM-5 với tỷ lệ hợp lý, xúc tác của nhóm nghiên cứu có hiệu suất propylene tăng rất mạnh (trên 13% khối lượng), đồng thời trị số octane của xăng cũng tăng thêm khoảng 5 đơn vị so với các dòng xúc tác đang dùng tại Nhà máy Lọc dầu Dung Quất hiện nay.
Kết quả đánh giá xúc tác trên phần mềm FCC-SIM mô phỏng điều kiện hoạt động của Phân xưởng RFCC của Nhà máy Lọc dầu Dung Quất cho thấy, xúc tác đa mao quản là sự lựa chọn phù hợp khi cần mở rộng giới hạn của nguyên liệu chế biến. Hệ xúc tác này cho hoạt tính cao, ổn định, đồng thời việc sử dụng xúc tác đa mao quản không phải điều chỉnh lớn các thông số vận hành của Nhà máy Lọc dầu Dung Quất.
Kết quả này cho thấy tiềm năng ứng dụng cao của xúc tác cracking đa mao quản, mở ra các hướng nghiên cứu mới về xúc tác FCC, nhất là trong bối cảnh Việt Nam vẫn đang phải nhập khẩu hoàn toàn xúc tác cracking công nghiệp. Tuy nhiên, TS. Vũ Xuân Hoàn lưu ý, các bí quyết về công nghệ tạo hạt xúc tác, hợp phần pha nền, chất kết dính,… cực kỳ quan trọng nhưng hiện nay Việt Nam chưa làm được. Để có thể từng bước làm chủ công nghệ và đánh giá đầy đủ khả năng ứng dụng cho Nhà máy Lọc dầu Dung Quất, cần thiết phải đầu tư nghiên cứu ở quy mô lớn hơn với máy sấy phun công nghiệp để hoàn thiện xúc tác trước khi ứng dụng thử nghiệm thực tế.

Nhân kỷ niệm Ngày Khoa học và Công nghệ Việt Nam lần thứ 8 (18/5/2014 – 18/5/2021), đồng chí Hoàng Quốc Vượng – Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐTV Tập đoàn Dầu khí Việt Nam đã gửi Thư chúc mừng tới các tập thể, cá nhân, các thế hệ cán bộ nghiên cứu và quản lý khoa học công nghệ.

Thư chúc mừng của Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐTV Tập đoàn Dầu khí Việt Nam nhân kỷ niệm Ngày Khoa học và Công nghệ Việt Nam lần thứ 8 (18/5/2014 – 18/5/2021)

Năm 2021, Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam tiếp tục phải đối mặt với nhiều khó khăn thách thức. Một mặt duy trì, tăng cường công tác phòng chống dịch bệnh Covid-19 vẫn diễn biến hết sức phức tạp trên phạm vi toàn thế giới và đang cao điểm bùng phát tại khu vực. Đồng thời phải nỗ lực tối đa đảm bảo ổn định sản xuất kinh doanh, duy trì tăng trưởng. Bằng việc triển khai quyết liệt, đồng bộ hệ thống giải pháp kỹ thuật, quản trị và quản lý từ Tập đoàn đến các đơn vị cơ sở, chúng ta đã từng bước vượt qua những khó khăn thách thức, hoàn thành xuất sắc các chỉ tiêu cơ bản trong Quý đầu của năm.

Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐTV Tập đoàn Dầu khí Việt Nam ghi nhận và đánh giá cao các hoạt động ứng dụng và đổi mới công nghệ đã được triển khai một cách kịp thời, phong trào phát huy sáng tạo và thúc đẩy sáng kiến được phát triển mạnh mẽ đã và đang góp phần quan trọng vào những kết quả đạt được trong sản xuất kinh doanh của Tập đoàn trong thời gian vừa qua. Năm 2021, Tập đoàn bắt đầu triển khai thực hiện kế hoạch nghiên cứu khoa học dài hạn giai đoạn 2021 – 2025 với những chương trình khoa học công nghệ trọng điểm, mang tính đột phá. Đây sẽ là cơ sở nền tảng để phát triển sản phẩm, dịch vụ chủ lực, mang thương hiệu dầu khí Việt Nam có sức cạnh trạnh trên thị trường trong nước và quốc tế.

Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐTV Tập đoàn Dầu khí Việt Nam yêu cầu các đơn vị cần tập trung nguồn lực thực hiện kế hoạch khoa học công nghệ có trọng tâm, trọng điểm; đồng thời mong muốn đội ngũ cán bộ nghiên cứu và quản lý khoa học công nghệ trong toàn Tập đoàn nỗ lực hơn nữa, không ngừng đổi mới sáng tạo, kịp thời nắm bắt, tích cực ứng dụng các thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 vào hoạt động sản xuất kinh doanh của Tập đoàn cũng như các đơn vị, phát huy cao hơn nữa vai trò khoa học công nghệ, tạo ra những giải pháp đột phá góp phần vào sự phát triển ổn định và bền vững của Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam.

Ngày 17/4/2021, tại TP. Hồ Chí Minh, Viện Dầu khí Việt Nam (VPI) và Tổng công ty Dầu Việt Nam – CTCP (PVOIL) đã ký “Hợp đồng khung dịch vụ tư vấn nghiên cứu về pin và trạm sạc cho xe ôtô điện”.

Tổng giám đốc PVOIL Đoàn Văn Nhuộm và Viện trưởng VPI Nguyễn Anh Đức ký “Hợp đồng dịch vụ tư vấn nghiên cứu về pin và trạm sạc cho xe ôtô điện”. Ảnh: Mai Phương

Theo đó, VPI sẽ đánh giá tác động của xu hướng chuyển dịch năng lượng đến thị trường xăng dầu Việt Nam; nhận định thách thức và cơ hội dưới tác động của xu hướng chuyển dịch năng lượng, xu hướng phát triển pin xe điện và trạm sạc cho xe ô tô trên thế giới, khu vực và Việt Nam. Trên cơ sở đó, VPI đề xuất các giải pháp để PVOIL phát triển ổn định và bền vững trong bối cảnh diễn ra xu hướng chuyển dịch năng lượng.
Viện trưởng VPI Nguyễn Anh Đức cho biết, theo khảo sát của Frost & Sullivan (Mỹ) có 33% người tiêu dùng ở Việt Nam quan tâm đến việc mua xe điện, vấn đề còn lại là giá, công nghệ sạc, giá pin và tuổi thọ của pin. Với vai trò và sứ mệnh của đơn vị nghiên cứu khoa học của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, VPI sẽ theo dõi các chỉ dấu của thị trường, thường xuyên cập nhật để lãnh đạo PVOIL có cơ sở đưa ra quyết định chính xác, chuẩn bị sẵn sàng các giải pháp ứng phó rủi ro và tận dụng cơ hội trong xu hướng chuyển dịch năng lượng.
Chủ tịch HĐQT PVOIL Cao Hoài Dương cho biết, trong xu hướng chuyển dịch năng lượng, PVOIL là đơn vị bị ảnh hưởng trực tiếp nên luôn có ý thức chủ động ứng phó “giảm thiểu nguy và tận dụng cơ”. Cách đây 3 năm, PVOIL đã quan tâm nghiên cứu sự phát triển xe điện, khả năng thay thế của xe điện cho xe chạy bằng xăng dầu và xây dựng các kịch bản có thể xảy ra. PVOIL mong rằng, qua sự hợp tác với VPI, các chuyên gia sẽ hỗ trợ PVOIL trong nghiên cứu công nghệ, kỹ thuật, xu hướng phát triển của pin và trạm sạc để PVOIL có thêm thông tin trong công tác hoạch định chiến lược phát triển, sẵn sàng thích ứng với xu hướng phát triển của xe điện.
Với vai trò là doanh nghiệp kinh doanh phân phối sản phẩm dầu, sự chuyển dịch năng lượng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của PVOIL. Do đó, PVOIL cần tận dụng lợi thế cơ sở hạ tầng sẵn có của hệ thống hơn 600 cửa hàng xăng dầu trên khắp cả nước, ứng dụng công nghệ 4.0 vào hoạt động kinh doanh để có các phương án, giải pháp đón đầu xu thế phát triển của xe ôtô điện.

Viện Dầu khí Việt nam thông báo mời chào giá với chi tiết như sau:

1. Bên mời thầu: Viện Dầu khí Việt nam (Đơn vị sử dụng hàng hóa: Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển An toàn và Môi trường Dầu khí

2. Tên hạng mục: Thuê nhân giống vi sinh vật thực hiện nhiệm vụ NCKH

3. Nguồn vốn: Từ kinh phí thực hiện Hợp đồng theo Quyết định giao nhiệm vụ  số 3586/QĐ-VDKVN ngày 31/07/2020  của Viện Dầu khí Việt Nam

4. Thời gian phát hành YCCG: 10 giờ 00 ngày 06/04/2021

5. Địa điểm phát hành YCCG: Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển An toàn và Môi trường Dầu khí, Viện Dầu khí Việt Nam – Lô E2b-5, Đường D1, Khu Công nghệ cao, phường Tân Phú, TP. Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh.

6. Thời điểm nộp HSCG: không chậm hơn 10 giờ 00 ngày 14/04/2021

Viện Dầu khí Việt nam thông báo mời chào giá với chi tiết như sau:

1.      Bên mời thầu: Viện Dầu khí Việt nam (Đơn vị sử dụng hàng hóa: Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển An toàn và Môi trường Dầu khí

2.      Tên hạng mục: Mua bản đồ địa hình thực hiện nhiệm vụ NCKH (chi tiết tại đây)

3.      Nguồn vốn: Từ kinh phí thực hiện Hợp đồng theo Quyết định giao nhiệm vụ  số 880/QĐ-VDKVN ngày 24/02/2021  của Viện Dầu khí Việt Nam.

4.      Thời gian phát hành Thông báo mời chào giá: 10giờ 00 ngày 30/03/2021

5.      Địa điểm phát hành Thông báo mời chào giá: Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển An toàn và Môi trường Dầu khí, Viện Dầu khí Việt Nam – Lô E2b-5, Đường D1, Khu Công nghệ cao, phường Tân Phú, TP. Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh.

6.      Thời điểm nộp Hồ sơ chào giá: không chậm hơn 10 giờ 00 ngày 08/04/2021

Ngày 29/3/2021, Viện Dầu khí Việt Nam (VPI) và Großmann Ingenieur Consult GmbH (GICON®) đã tổ chức trực tuyến Lễ ký Biên bản ghi nhớ hợp tác giữa Tiến sĩ Hagen Hilse – Giám đốc điều hành GICON® và Tiến sĩ Nguyễn Anh Đức – Viện trưởng VPI.

Tiến sĩ Hagen Hilse – Giám đốc điều hành GICON và Tiến sĩ Nguyễn Anh Đức – Viện trưởng VPI ký Biên bản ghi nhớ.

VPI và GICON® sẽ hợp tác nghiên cứu, ứng dụng các công nghệ mới ở Việt Nam, trọng tâm là sản xuất điện gió ngoài khơi và sử dụng khi không được huy động để sản xuất hydro bằng nước biển; sử dụng công nghệ sinh học và điện phân nước để chuyển hóa sinh khối thành methane sinh học. Hai bên tăng cường hợp tác trong lĩnh vực đào tạo, trọng tâm là quản lý năng lượng (lập kế hoạch, cung cấp các giải pháp tối ưu hóa năng lượng); công nghệ sản xuất hydro và điện từ nguyên liệu tái tạo và khí sinh học; nghiên cứu đa dạng sinh học; đánh giá độc tính sinh thái.

Giáo sư, Tiến sĩ Jochen Grossmann – Chủ tịch GICON® cho biết sẽ tăng cường hợp tác nghiên cứu, chia sẻ kinh nghiệm với VPI trong các lĩnh vực sản xuất năng lượng tái tạo (từ gió, mặt trời và sinh khối), quản lý năng lượng, công nghệ xử lý chất thải, công nghệ sinh học (như hệ thống lên men kỵ khí và phản ứng quang sinh, nghiên cứu đa dạng sinh học và đánh giá độc tính môi trường)… GICON® đang sở hữu số lượng lớn bằng sáng chế, đặc biệt là các công nghệ năng lượng tái tạo và bảo vệ môi trường. GICON® quan tâm đến việc áp dụng và tiếp tục triển khai các công nghệ này tại Việt Nam cùng với đối tác VPI.Tiến sĩ Phan Ngọc Trung – Thành viên HĐTV Tập đoàn Dầu khí Việt Nam cho biết chuyển dịch năng lượng là xu hướng lớn, mang tính cách mạng, dự báo có quy mô và tác động lớn trên toàn thế giới. Trong chiến lược xây dựng hệ sinh thái sáng tạo cho Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam, VPI được giao trọng trách đóng vai trò hạt nhân, liên kết với các tổ chức/cá nhân trên thế giới để nghiên cứu phát triển, cung cấp các sản phẩm, giải pháp công nghệ mới, đột phá để nâng cao hiệu quả hoạt động, năng lực cạnh tranh cho các đơn vị trong ngành Dầu khí Việt Nam. Lãnh đạo Tập đoàn Dầu khí Việt Nam đánh giá cao các ý tưởng, kế hoạch về việc phối hợp triển khai chương trình nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ, đào tạo của VPI và GICON®.

TS. Phan Ngọc Trung – Thành viên HĐTV Tập đoàn Dầu khí Việt Nam đánh giá cao sự hợp tác giữa VPI và GICON®

Tiến sĩ Nguyễn Anh Đức – Viện trưởng VPI cho biết Diễn đàn đổi mới sáng tạo và kinh tế Đức – Việt là cầu nối cho sự hợp tác giữa VPI and GICON: “Chúng tôi kết hợp thế mạnh của GICON® trong nghiên cứu, phát triển và kỹ thuật với sự am hiểu của VPI về điều kiện đặc thù ở khu vực Đông Nam Á, từ đó góp phần phát triển kinh tế – xã hội Việt Nam. Sản xuất điện và hydro xanh là chủ đề của tương lai mà chúng tôi lên kế hoạch triển khai các dự án thử nghiệm để tìm ra các công nghệ/giải pháp tối ưu”.
GICON® là tập đoàn quốc tế (có trụ sở chính tại Dresden, Đức và văn phòng đại diện tại châu Mỹ, châu Âu, châu Á), cung cấp dịch vụ tư vấn và kỹ thuật, nghiên cứu phát triển, xây dựng dự án. Trong đó, GICON® cung cấp dịch vụ tư vấn và giải pháp kỹ thuật cho các lĩnh vực hoạch định hệ thống kinh doanh, môi trường, quản lý tài nguyên đất và nước, công nghệ năng lượng, công nghệ thông tin…
Với sự hợp tác của các tổ chức nghiên cứu quốc tế, các nghiên cứu toàn diện được GICON® thực hiện nhằm đảm bảo sự đổi mới cần thiết cho GICON® và cho chính khách hàng. GICON® có thể tự phát triển các nghiên cứu mới cho đến khi sẵn sàng đưa vào sản xuất, giới thiệu ra thị trường và tự sản xuất sản phẩm độc quyền.
Được thành lập năm 1978, VPI là đơn vị nghiên cứu khoa học công nghệ của Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (PetroVietnam). Các kết quả nghiên cứu của VPI là cơ sở khoa học cho việc hoạch định chính sách, chiến lược, quyết định của PVN và tư vấn cho Nhà nước trong các hoạt động dầu khí, bao gồm tìm kiếm, thăm dò, khai thác, vận chuyển, tàng trữ, chế biến, an toàn và môi trường, kinh tế và quản lý dầu khí. Sứ mệnh của VPI là trở thành hạt nhân đổi mới sáng tạo, tiên phong từ nghiên cứu, đến triển khai và sản xuất; cung cấp các chuyên gia có trình độ cao và tận tâm, đóng vai trò quan trọng cho sự phát triển bền vững của Việt Nam và hội nhập vào ngành năng lượng toàn cầu.
Chỉ tính riêng trong lĩnh vực kinh tế quản lý dầu khí, VPI đang tập trung rà soát, xây dựng chiến lược, quy hoạch phát triển ngành Dầu khí Việt Nam; lập, thẩm định, phản biện các báo cáo kế hoạch phát triển mỏ (ODP, FDP); nghiên cứu, đề xuất cơ chế chính sách quản lý Nhà nước trong các hoạt động dầu khí; phân tích, dự báo thị trường dầu khí và năng lượng; lập, thẩm định các định mức kinh tế kỹ thuật; nghiên cứu, tư vấn về quản trị doanh nghiệp, quản trị rủi ro…

Trong giai đoạn 2020 – 2025, VPI đặt mục tiêu triển khai thành công tối thiểu 4 chương trình nghiên cứu dài hạn để tạo ra các sản phẩm/giải pháp khoa học công nghệ, đón đầu các xu hướng chính trên thế giới (chuyển dịch năng lượng, kinh tế số); đăng ký bản quyền sở hữu trí tuệ/sản phẩm khoa học công nghệ (sáng kiến, sáng chế, giải pháp, bản quyền tác giả) tăng trưởng 10%/năm, có tối thiểu 2 phát minh sáng chế quốc tế; thử nghiệm áp dụng tối thiểu 5 công nghệ mới trên thế giới; thương mại hóa tối thiểu 3 sản phẩm khoa học công nghệ.