Đoàn chụp ảnh tại vết lộ có đá vôi ngậm asphalt

Tham gia và hướng dẫn Thực địa có TS. Vũ Trụ (nguyên là cán bộ trung tâm Nghiên cứu Tím kiếm Thăm dò và Khai thác Dầu khí EPC) và ThS. Đỗ Mạnh Toàn – Phó trưởng phòng phụ trách phòng Địa hóa, Trung tâm Nghiên cứu Tìm kiếm Thăm dò và Khai thác Dầu khí. 

TS. Vũ Trụ và ThS Đỗ Mạnh Toàn đã giới thiệu cho các đoàn viên thanh niên VPI về những khái niệm cơ bản như ranh giới bể, đứt gãy, trầm tích sông suối, quan hệ cấu trúc địa chất, đặc điểm đá dầu nổi tiếng tại khu vực Nậm Ún, Sơn La, thực hành xác định mặt lớp, sử dụng địa bàn, đo thế nằm của đất đá tại các điểm lộ. 

Điểm lộ thứ 1 ở vị trí mốc lộ giới 8/12 tỉnh lộ 106, quan sát ranh giới giữa các thành tạo trầm tích đá vôi thuộc hệ tầng Đồng Giao và trầm tích lục nguyên chứa than của hệ tầng Suối Bàng. Phía dưới của sườn núi bắt gặp những tảng đá hoa sáng màu. Bên cạnh đó, các dấu hiệu địa chất cũng cho thấy thung lũng bên dưới có thể được hình thành từ cơ chế trượt bằng và tách giãn của hệ thống đứt gãy.

Nghe giới thiệu đặc điểm đá vôi hệ tầng Đồng Giao và trầm tích lục nguyên hệ tầng Suối Bàng.

Ranh giới giữa trầm tích lục nguyên hệ tầng Suối Bàng và đá vôi hệ tầng Đồng Giao

Thảo luận về ranh giới quan sát được tại điểm lộ số 1

Nghiên cứu đặc điểm thạch học trầm tích lục nguyên và carbonate tại điểm lộ số 1

Thực hành đo thế nằm bằng địa bàn địa chất

Điểm lộ thứ 2 thuộc bản Nậm Ún, xã Mường Chăn, huyện Mường La, Sơn La; là các đá phiến sét vôi chứa dầu nằm xen kẹp các đá vôi thuộc hệ tầng Mường Trai. Tại đây lộ ra các trầm tích lục nguyên và carbonate có chứa asphalt ở các mức độ khác nhau. Đây là tập trầm tích giầu vật chất hữu cơ, đá đập ra có mùi dầu, đốt cháy thấy mùi nhựa đường.

Tập đá vôi chứa asphalt tại điểm lộ số 2

Đốt cháy đá vôi ngậm asphalt có mùi khét của nhựa đường

Điểm lộ thứ 3 nằm tại đỉnh đèo Mộc Châu, km 200 + 400, thuộc hệ tầng Yên Châu, tuổi Creta. Tại điểm khảo sát quan sát được mặt lớp, ngăn cách giữa tầng cuội sạn và lớp cát dày phía trên. Cát kết thuộc loại hạt thô, phân lớp, có màu nâu đỏ đặc trưng của trầm tích lục địa thời kỳ đầu hình thành bể. Từ những đặc điểm trên có thể thấy môi trường trầm tích chủ yếu liên quan đến aluvi hoặc deluvi với các tập cuội kết thô. Tập trầm tích này có thể liên hệ với các thành tạo cuội sạn aluvi nằm phủ bất chỉnh hợp trên đá móng khu vực bể Cửu Long thành tạo trong giai đoạn đầu tách giãn bể.

Nghiên cứu đặc điểm phân lớp, thạch học phần lót đáy bồn trũng Yên Châu - điểm lộ số 3

Chương trình đào tạo thực địa đã giúp các đoàn viên thanh niên VPI - cũng là các cán bộ trẻ nắm được khái niệm cơ bản như mặt lớp, đặc điểm thạch học carbonate, trầm tích lục nguyên, hệ thống đứt gãy, ranh giới kiến tạo…làm quen với việc thu thập tài liệu, số liệu trong quá trình nghiên cứu và khảo sát các đối tượng ngoài thực địa, đặc biệt là biết vận dụng các phương pháp lý luận khi nghiên cứu đối tượng cụ thể trên từng khu vực.

Đoàn chụp ảnh tại điểm lộ đá phiến sericite hệ tầng Nậm Cô

Tin, ảnh: Đoàn thanh niên VPI

 

Số lần đọc: 255, đăng ngày: 24/01/2018