Ngày 5/7/2023, Tổng giám đốc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (Petrovietnam) Lê Mạnh Hùng đã chủ trì cuộc họp với Viện Dầu khí Việt Nam (VPI) về tình hình triển khai kế hoạch 6 tháng cuối năm 2023.
Tại cuộc họp, Viện trưởng VPI Nguyễn Anh Đức đã báo cáo tình hình hoạt động của đơn vị trong 6 tháng đầu năm 2023, kết quả thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm được Tập đoàn giao tại Thông báo kết luận số 4141/TB-DKVN ngày 25/7/2022; đề xuất các giải pháp và kiến nghị để hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch 6 tháng cuối năm và cả năm 2023.

Viện trưởng VPI Nguyễn Anh Đức báo cáo tại cuộc họp
Cụ thể trong thời gian qua, VPI đã nghiên cứu, xem xét ứng dụng công nghệ mới và các giải pháp kỹ thuật mới, phương pháp mới (như hợp nhất tài liệu địa chất 3D của bể Cửu Long, bẫy phi cấu tạo, nghịch đảo địa chấn, từ trọng lực, ứng dụng ML/AI…); xem xét, đánh giá giải pháp nâng cao hệ số thu hồi cho các mỏ hiện có nhằm duy trì sản lượng khai thác dầu ổn định (đã thử nghiệm thành công bơm ép hóa phẩm nâng cao hệ số thu hồi dầu VPI SP cho đối tượng Miocene dưới mỏ Bạch Hổ; đánh giá khả năng mở rộng phạm vi áp dụng các giải pháp EOR/IOR); nghiên cứu áp dụng xu hướng phát triển mỏ với việc tối ưu cơ cấu chi phí CAPEX, OPEX để có thể rút ngắn thủ tục (đã xây dựng bộ hướng dẫn lập dự toán trong khâu đầu, đang đánh giá tính khả thi của việc xây dựng định mức trong thăm dò, phát triển và thu dọn mỏ).
Đồng thời, VPI tập trung nghiên cứu giải pháp quản trị để giữ sản lượng và gia tăng sản lượng kết hợp tính toán phương án đầu tư phù hợp cho công tác khoan thăm dò tại các khu vực truyền thống; ứng dụng học sâu (U-FNO) để mô phỏng mô hình khai thác, tối ưu hiệu quả dự án Lô B; nghiên cứu các giải pháp gia tăng sản lượng khai thác và ứng dụng công nghệ, kỹ thuật, vật liệu tiên tiến trong thu hồi dầu tăng cường EOR/IOR (nghiên cứu phương án khai thác thân dầu móng dưới áp suất bão hòa).
Bên cạnh đó, VPI cũng tập trung đánh giá cơ hội thay đổi mô hình kinh doanh, cơ hội phát triển cho sản phẩm dịch vụ theo xu hướng phát triển kinh tế xanh (sản phẩm hàng hóa/dịch vụ chủ lực, điện gió ngoài khơi, hydrogen xanh, ammonia xanh…); xây dựng chương trình tổng thể, đánh giá cơ hội tham gia của Petrovietnam trong đề án sử dụng và chôn lấp/cất giữ CO2 (đã hợp tác với JOGMEC đánh giá chi tiết tiềm năng cất giữ CO2 tại bể Sông Hồng, Cửu Long; hợp tác tổ chức các hội thảo quốc tế về: (i) khung pháp lý CCUS, (ii) về CCS, (iii) công nghệ thúc đẩy xu hướng chuyển dịch năng lượng tại Việt Nam, (iv) nguồn phát thải và tiềm năng cất giữ CO2).

Petrovietnam làm việc với VPI về tình hình triển khai kế hoạch 6 tháng cuối năm 2023
VPI cho biết đã hợp tác sản xuất thử nghiệm phân bón nhả chậm và ứng dụng CNT/graphene; thử nghiệm liên kết 3 doanh nghiệp khoa học công nghệ, đồng thời đang tập trung nghiên cứu mô hình quản lý chuỗi liên kết trong Tập đoàn, trên cơ sở tối ưu việc sử dụng các tài sản, hệ thống hạ tầng kinh doanh các sản phẩm/dịch vụ; xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp trong doanh nghiệp (thử nghiệm với 4 công ty khởi nguồn công nghệ mới về địa chất, điện gió ngoài khơi, ứng dụng graphene). VPI thực hiện vai trò tư vấn, hỗ trợ trong quá trình xây dựng Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Dầu khí; Quy hoạch tổng thể năng lượng quốc gia thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050; dự báo và cập nhật thông tin thị trường hàng ngày; đề xuất giải pháp tháo gỡ các dự án khó khăn và triển khai các dự án mới.
Theo Viện trưởng Nguyễn Anh Đức, với định hướng hình thành và phát triển hệ sinh thái sáng tạo cho ngành Dầu khí Việt Nam, VPI đang ứng dụng các công cụ/nền tảng hàng đầu để cộng tác sáng tạo sản phẩm số; xây dựng nền tảng sáng tạo sản phẩm số/vật lý (thấu hiểu doanh nghiệp, chuyên gia, phân tích dữ liệu, thí nghiệm) và 6 nhóm chuyên sáng tạo sản phẩm số/vật lý trong các lĩnh vực công nghệ trọng tâm gồm: công nghệ tìm kiếm tiên tiến; tiềm năng và trữ lượng; hỗ trợ quản lý và tối ưu khai thác; sử dụng năng lượng tiết kiệm hiệu quả; thu giữ, sử dụng và lưu trữ carbon (CCUS); hydrogen/ammonia xanh… Trên cơ sở đó, VPI kiến nghị Tập đoàn sớm phê duyệt Kế hoạch 5 năm 2021 – 2025, chiến lược phát triển đến năm 2035 và tầm nhìn đến năm 2045 của VPI; Mô hình tổ chức hoạt động của VPI; đồng thời phê duyệt và triển khai chương trình nghiên cứu khoa học 2021 – 2025.
Theo ông Bùi Minh Tiến – Thành viên HĐTV Petrovietnam, VPI dù hoạt động theo mô hình nào thì nhiệm vụ chính là hỗ trợ Petrovietnam trong việc cập nhật các cơ hội phát triển, rà soát chiến lược, tư vấn, đề xuất các giải pháp để tạo ra động lực tăng trưởng, sự phát triển bền vững cho toàn Tập đoàn.

Thành viên HĐTV Petrovietnam Bùi Minh Tiến phát biểu tại cuộc họp
Kết luận cuộc họp, Tổng giám đốc Petrovietnam Lê Mạnh Hùng đánh giá cao VPI trong việc triển khai nghiêm túc các nhiệm vụ Tập đoàn giao thông qua chỉ đạo, kết luận trong các cuộc họp cũng như trong quá trình quản trị, điều hành. Tổng giám đốc nhấn mạnh: Nguồn lực bắt đầu từ tư duy, động lực bắt đầu từ sự đổi mới, sức mạnh bắt đầu từ người lao động dầu khí; nghiên cứu phát triển và đổi mới sáng tạo là động lực cho phát triển, với mục tiêu trở thành tập đoàn công nghiệp năng lượng quốc gia. Với vai trò như vậy, vị thế và vị trí của VPI trong hệ sinh thái của Petrovietnam phải được củng cố và nâng cao, gắn bó mật thiết với hoạt động quản trị, điều hành của Tập đoàn.

Tổng giám đốc Petrovietnam Lê Mạnh Hùng phát biểu chỉ đạo tại cuộc họp
Tổng giám đốc Petrovietnam giao VPI phối hợp với Ban Kinh tế Đầu tư trong quá trình làm việc với Ban Kinh tế Trung ương về đánh giá tình hình triển khai thực hiện Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 23/7/2015, từ đó, giúp Petrovietnam cập nhật chiến lược phát triển mới với mục tiêu trở thành tập đoàn công nghiệp năng lượng quốc gia; tiếp tục đánh giá và dự báo dịch chuyển mô hình kinh doanh của Petrovietnam sau khi cập nhật chiến lược và chuyển đổi số.
VPI phối hợp với các Ban chuyên môn xây dựng Báo cáo ESG cho Petrovietnam, đồng bộ với chiến lược và lộ trình chuyển dịch năng lượng, làm cơ sở thu xếp tài chính cho các dự án đầu tư của Petrovietnam; xây dựng chiến lược hydrogen và ammonia xanh của Petrovietnam; cập nhật chiến lược phát triển lĩnh vực công nghiệp lọc hóa dầu, đặc biệt là dự báo và cân đối lộ trình về nguyên liệu, nhiên liệu và vật liệu làm cơ sở xác định hướng dịch chuyển cho khâu sau; thực hiện nhiệm vụ thường xuyên cập nhật sự thay đổi về công nghệ trong các lĩnh vực hoạt động chính của Petrovietnam; thẩm định Kế hoạch quản trị của Petrovietnam, đảm bảo mục tiêu tăng trưởng, xây dựng mô hình kinh tế cho các dự án khó khăn yếu kém.

Đại diện các Ban chuyên môn: Ban Khai thác Dầu khí, Ban Kinh tế – Đầu tư, Ban Tài chính, Ban Công nghệ – An toàn và Môi trường, Ban Pháp chế Kiểm tra và Ban Công nghệ – Lọc hóa dầu phát biểu tại cuộc họp
Tổng giám đốc Petrovietnam đặc biệt đánh giá cao việc ứng dụng các mô hình về tư duy, hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và các nhóm hạt nhân để bắt đầu hình thành mô hình khởi nghiệp trong VPI. Việc thí điểm start-up trong doanh nghiệp sẽ được nhân rộng trong toàn Tập đoàn, trước mắt thí điểm tại 2 đơn vị PVCFC và BSR. VPI cần đề xuất phương án hợp tác nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo; rà soát đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học trong ngành Dầu khí, để đề xuất áp dụng cơ chế chính sách riêng đối với nhân sự có trình độ cao.
Về các kiến nghị của VPI, Tổng giám đốc Petrovietnam chỉ đạo Ban liên quan khẩn trương rà soát, trình lãnh đạo phê duyệt Kế hoạch 5 năm 2021 – 2025, Chiến lược phát triển của VPI đồng bộ với Chiến lược phát triển của Petrovietnam; nghiên cứu kỹ lưỡng và cập nhật mô hình hoạt động, mô hình tổ chức và mô hình quản trị của VPI với mục tiêu phục vụ cho sự phát triển bền vững của Tập đoàn. Tổng giám đốc Petrovietnam gợi ý mô hình VPI nằm trong Công ty mẹ song cần liên kết chặt chẽ với các trung tâm nghiên cứu trong toàn hệ sinh thái của Tập đoàn, có sự phân công phối hợp với các đơn vị thông qua quy chế người đại diện, tránh tình trạng lãng phí nguồn lực. VPI cần cập nhật các mô hình viện nghiên cứu trong các tập đoàn lớn, tập đoàn đa quốc gia, từ đó xác định rõ mục tiêu và cập nhật lại chiến lược phát triển.
Nhấn mạnh nhiệm vụ chính của VPI là phục vụ mục tiêu phát triển của Petrovietnam, tạo động lực để Tập đoàn phát triển ổn định và tăng trưởng bền vững, Tổng giám đốc yêu cầu các Ban chuyên môn chia sẻ, hỗ trợ, tháo gỡ các thủ tục để VPI hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao.
Ngày 17/5/2023, tại Hà Nội, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính dự Lễ kỷ niệm 10 năm Ngày Khoa học và Công nghệ Việt Nam (18/5/2013 – 18/5/2023) với chủ đề “Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo – động lực phát triển bền vững”.
Thủ tướng Chính phủ nhắc lại câu nói của triết gia người Thụy Sĩ Henri Frederic Amiel “xã hội phát triển nhờ khoa học” và nhấn mạnh trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 đang mang lại nhiều cơ hội cũng như không ít thách thức mới, lại càng thấy rõ vai trò quan trọng của khoa học, công nghệ. Nhân sự kiện này, Thủ tướng Chính phủ biểu dương và nhiệt liệt chúc mừng các nhà khoa học Việt Nam ở trong nước và nước ngoài đã cống hiến thầm lặng và lao động quên mình cho đất nước trong suốt những năm qua; biểu dương các ngành, các cấp đã ủng hộ, hỗ trợ lực lượng khoa học, công nghệ hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao, đóng góp tích cực, hiệu quả vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Chỉ rõ những hạn chế cần khắc phục, Thủ tướng Chính phủ cho rằng, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo phát triển chưa tương xứng với tiềm nǎng và vị trí quốc sách hàng đầu; chưa thực sự trở thành động lực để thúc đẩy phát triển.
Trên thế giới, nhiều quốc gia như Mỹ, Nhật Bản, Đức, Hàn Quốc, Israel, Trung Quốc… đã rất thành công trong phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, lấy đó làm động lực để bứt phá, vươn lên mạnh mẽ, trở thành những hình mẫu, những “cánh chim đầu đàn”, quốc gia dẫn dắt trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4. Tại Việt Nam, phát triển khoa học, công nghệ được xác định là quốc sách hàng đầu. Đại hội XIII của Đảng tiếp tục xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo theo quan điểm “…nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, có cơ chế đột phá để thu hút, trọng dụng nhân tài, ứng dụng mạnh mẽ khoa học và công nghệ, nhất là những thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, tạo động lực mới cho phát triển nhanh và bền vững đất nước…”.
“Trong một thế giới biến đổi nhanh, phức tạp và khó lường, cần nuôi dưỡng, phát huy mạnh mẽ hơn nữa tinh thần khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo; cần đội ngũ thầy cô giỏi, có tinh thần và nhiệt huyết nghiên cứu; đội ngũ các nhà khoa học giỏi làm việc trong các viện nghiên cứu, trường đại học; các kỹ sư, nhà công nghệ giỏi trong doanh nghiệp, các nhà quản lý khoa học giỏi để hoạch định các chính sách thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; phát huy hiệu quả nguồn lực các nhà khoa học người Việt Nam ở nước ngoài; cần có tư duy đổi mới, tầm nhìn chiến lược, quyết tâm cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt, có trọng tâm, trọng điểm, thai thác tối đa tiềm năng, lợi thế cạnh tranh để phát triển” – Thủ tướng.
Thủ tướng Chính phủ cho rằng để thực hiện Chiến lược phát triển khoa học, công nghệ 10 năm 2021 – 2030, tầm nhìn đến 2045, phải tiếp tục đổi mới tư duy và hành động một cách quyết liệt nhằm khai thông, giải phóng tối đa, huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực, đặc biệt là phát huy mạnh mẽ trí tuệ và sức sáng tạo của con người Việt Nam, lấy khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo làm một động lực tăng trưởng chủ yếu. Để thực hiện nhiệm vụ trên, Thủ tướng Chính phủ nêu rõ một số quan điểm phát triển khoa học công nghệ. Theo đó, phát triển khoa học công nghệ phải phục vụ thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, bảo đảm quốc phòng, an ninh, giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ; xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng, thực chất, hiệu quả. Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo phải gắn liền với thực tiễn, tập trung giải quyết những vấn đề thực tiễn, lấy thực tiễn làm thước đo của sự thành công. Nghiên cứu khoa học vừa phải tập trung vào những vấn đề, lĩnh vực cơ bản, nền tảng, mang tính lý thuyết, vừa phải giải quyết những nút thắt mà thực tế đặt ra; đồng thời có tính định hướng, dẫn dắt cho sự phát triển của sản xuất, kinh doanh. Bám sát các xu hướng của thế giới, phát triển khoa học công nghệ cả chiều rộng và chiều sâu, đồng thời có trọng tâm, trọng điểm, tập trung vào một số lĩnh vực đặc thù, có thế mạnh của Việt Nam để bứt phá, tạo sự khác biệt, đi tiên phong trong khu vực và thế giới. Nguồn lực con người là trung tâm, chủ thể, mục tiêu, động lực thúc đầy phát triển khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo. Đầu tư cho nhân lực khoa học và công nghệ là đầu tư cho phát triển bền vững, trực tiếp nâng tầm trí tuệ và sức mạnh của dân tộc. Khuyến khích phong trào nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo ở tất cả các lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp, không phân biệt khu vực miền xuôi hay miền núi, biên giới, hải đảo, bất kể người Việt Nam trong nước hay ở nước ngoài.
Trong khoa học, phải có ước mơ, hoài bão; phải có nhiệt huyết, đam mê; phải có khát vọng, niềm tin; phải có mục tiêu, lý tưởng; phải có sự nỗ lực và kiên trì; phải có lòng tự trọng và niềm tự hào dân tộc; phải có tinh thần xả thân vì khoa học, dám đối diện với thất bại để thành công. Về các nhiệm vụ trọng tâm thời gian tới, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu cần nâng cao nhận thức và hành động của các cấp, các ngành trong chỉ đạo phát triển khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo; tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách đồng bộ, phù hợp, tạo sự đột phá trong ứng dụng công nghệ, nâng cao năng lực nghiên cứu, phát triển khoa học công nghệ trong bối cảnh cạnh tranh khắc nghiệt như hiện nay. Có cơ chế đặc thù, chấp nhận rủi ro, thất bại trong khoa học; dỡ bỏ các rào cản hành chính trong quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học; tạo dựng khuôn khổ pháp lý triển khai các cơ chế thí điểm, thử nghiệm và đặc thù đối với các loại hình, mô hình kinh tế mới dựa trên khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Thứ hai, thu hút tối đa các nguồn lực nhà nước và xã hội cho phát triển khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo; xác định đầu tư cho khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo là đầu tư cho phát triển; lấy đầu tư công dẫn dắt, thúc đẩy mạnh mẽ đầu tư tư cho khoa học công nghệ; tạo sự đột phá trong ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo trong khu vực doanh nghiệp, dịch vụ công.
Thứ ba, tạo môi trường học thuật và điều kiện làm việc thuận lợi để sử dụng, trọng dụng và thu hút nhân tài khoa học công nghệ; phát triển mạng lưới kết nối nhân tài Việt Nam trong nước và nước ngoài; tăng cường thu hút sự tham gia tích cực của các nhà khoa học nhằm giải quyết những nút thắt, điểm nghẽn phát triển kinh tế – xã hội đất nước; tạo thuận lợi cho nghiên cứu, chuyển giao kết quả khoa học công nghệ phù hợp với cơ chế thị trường; bảo đảm môi trường tự do học thuật và tự chủ trong nghiên cứu.
Thứ tư, các bộ, ngành, địa phương nghiên cứu, mạnh dạn đề xuất, triển khai các chế độ, chính sách đãi ngộ vượt trội cho đội ngũ khoa học công nghệ; khơi dậy niềm đam mê, khát vọng cống hiến, tinh thần khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, khuyến khích sự dấn thân, dám đối diện với rủi ro trong thực hiện các nhiệm vụ khoa học công nghệ. Nghiên cứu, áp dụng cơ chế sử dụng nguồn vốn Nhà nước để đầu tư mạo hiểm cho khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo.
Thứ năm, các doanh nghiệp cần coi hoạt động khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo là một trong các yếu tố quan trọng để nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh; quan tâm, khuyến khích để người lao động không ngừng cải tiến, sáng tạo trong lao động; nâng cao năng lực nghiên cứu, ứng dụng và hấp thụ công nghệ tiên tiến vào sản xuất, kinh doanh.
Thứ sáu, các cơ quan quản lý, cơ quan nghiên cứu về khoa học công nghệ, các cơ quan truyền thông tăng cường thời lượng tuyên truyền về các mô hình hoạt động khoa học và công nghệ thành công, các sáng kiến hay được ứng dụng hiệu quả vào sản xuất, kinh doanh để khích lệ, tạo động lực, truyền cảm hứng cho các ý tưởng, sáng kiến phát triển khoa học công nghệ. Thúc đẩy mạnh mẽ tinh thần quốc gia học tập, quốc gia khởi nghiệp, quốc gia đổi mới sáng tạo, không ngừng đổi mới sáng tạo.
Nhân dịp này, Thủ tướng Chính phủ mong muốn các chuyên gia, nhà khoa học luôn giữ trong mình ngọn lửa nhiệt huyết, say mê, dấn thân vì khoa học, để niềm đam mê này tiếp tục được trao truyền, lan tỏa sang các thế hệ hôm nay và mai sau. Thủ tướng Chính phủ kêu gọi các doanh nghiệp quan tâm hơn nữa, đẩy mạnh đầu tư toàn diện cho phát triển khoa học, công nghệ, nhất là các lĩnh vực mới phục vụ phát triển xanh, bền vững, thân thiện môi trường. Thăm quan Triển lãm về giải pháp/sản phẩm khoa học công nghệ tiêu biểu, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính và lãnh đạo các bộ, ngành đã thăm gian triển lãm của Viện Dầu khí Việt Nam (VPI), nghe giới thiệu về hóa phẩm nâng cao hệ số thu hồi dầu do VPI nghiên cứu, chế tạo.

Thủ tướng Chính phủ thăm gian hàng của VPI
VPI đã xây dựng được phần mềm đánh giá lựa chọn giải pháp nâng cao hệ số thu hồi dầu (VPI EOR Screening) phù hợp cho tất cả các mỏ, các đối tượng khai thác dầu tại Việt Nam; xây dựng mô hình mô phỏng địa chất và khai thác cho đối tượng áp dụng giải pháp công nghệ nâng cao thu hồi dầu; sản xuất 100 tấn hóa phẩm nâng cao hệ số thu hồi dầu VPI SP quy mô 4 tấn/ngày để phục vụ thử nghiệm công nghiệp. VPI đã cùng với Liên doanh Việt – Nga “Vietsovpetro” bơm ép thử nghiệm công nghiệp hóa phẩm VPI SP vào tầng chứa Miocen dưới, khu vực thử nghiệm mỏ Bạch Hổ, giúp gia tăng sản lượng khai thác.
Ngoài sản phẩm nâng cao hệ số thu hồi dầu, gian triển lãm của VPI cũng giới thiệu các sản phẩm khoa học công nghệ đặc trưng như: Anode hy sinh hợp kim nhôm, gạch không nung sản xuất từ nguyên liệu xúc tác FCC thải, nano graphene, carbon nano tube, dầu nhờn động cơ, phân bón thông minh, dầu nhiệt phân sinh khối, chế phẩm sinh học phân hủy dầu, chế phẩm diệt khuẩn; các giải pháp dữ liệu, ứng dụng trí tuệ nhân tạo, học máy để tối ưu quản lý khai thác dầu khí, phần mềm Clean Hydrogen và VPI-GPT…
Đảng sống trong lòng dân tộc, trong lòng nhân dân bởi trong mọi giai đoạn cách mạng, Đảng đều khẳng định được bản lĩnh, trí tuệ để đảm đương sứ mệnh lãnh đạo đất nước và nhân nhân qua khó khăn, thử thách và đạt những kết quả phát triển đầy ấn tượng.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta đã thực hiện thắng lợi, toàn diện nhiều mục tiêu, nhiệm vụ đề ra. Vừa tập trung phòng, chống, kiểm soát dịch bệnh, vừa thúc đẩy phục hồi và phát triển kinh tế – xã hội, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ gắn với chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng và hiệu quả. Mặc dù 2022 là năm có nhiều khó khăn, thách thức lớn, bất ngờ xuất hiện, tác động xấu, nhiều mặt và ảnh hưởng rất nặng nề đến thế giới và Việt Nam; cùng với đó, những tác động từ yếu tố nội tại cũng như những tác động từ bên ngoài đã ảnh hưởng đến mọi mặt tình hình đất nước, nhưng chúng ta đã hoàn thành và hoàn thành vượt mức 14/15 chỉ tiêu kế hoạch đề ra. Ấn tượng là kinh tế vẫn tiếp tục tăng trưởng nhanh, đạt 8%, cao hơn nhiều so với kế hoạch và là mức cao so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt mức kỷ lục 732 tỉ USD, Việt Nam tiếp tục nằm trong nhóm 25 nền kinh tế hàng đầu về thương mại, chỉ số giá tiêu dùng được kiểm soát ở mức 3,15% so với cùng kỳ.
Đóng góp một phần trong đó, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (Petrovietnam) năm 2022 đã có cú “lội ngược dòng” khi xác lập nhiều kỷ lục nhất trong 61 năm xây dựng và phát triển. Doanh thu đạt hơn 931 nghìn tỷ đồng, tương đương với 9,8% GDP của cả nước; Nộp ngân sách chiếm tỉ trọng 9,5% tổng thu ngân sách Nhà nước – đây là tỉ trọng cao nhất kể từ năm 2015 đến nay, cao hơn so với tỉ trọng trung bình 2016 – 2021 (tăng 7,6%). Petrovietnam ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia; cân đối vĩ mô và tham gia mạnh mẽ vào bình ổn thị trường…. Đây cũng là tinh thần chung, nỗ lực chung của nhiều doanh nghiệp trong thời qua.
Từ những khó khăn phát sinh của thực tiễn, Đảng ngày càng trưởng thành và đổi mới, nâng cao hơn nữa năng lực phân tích, dự báo; chủ động, nhạy bén nắm bắt những diễn biến mới của tình hình; kịp thời, quyết liệt xử lý có hiệu quả các vấn đề đặt ra; thích ứng linh hoạt với các tình huống mới phát sinh. Kịp thời phát hiện và có chủ trương, biện pháp phù hợp kiên quyết khắc phục những khó khăn, những việc khó, việc mới. Điều này cho thấy, trí tuệ, bản lĩnh của Đảng càng được khẳng định.
Link full video Chào mừng Ngày thành lập Đảng cộng sản Việt Nam
Là doanh nghiệp chủ lực của nền kinh tế nước nhà, có vai trò đảm bảo an ninh năng lượng, an ninh lương thực, an ninh kinh tế và bảo vệ chủ quyền an ninh quốc gia trên Biển Đông, Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam – Petrovietnam luôn kế thừa bài học quản trị biến động, 3 năm liên tiếp kiên định quan điểm tái tạo văn hóa đi trước tạo đà cho tái tạo kinh doanh. Năm 2022, Petrovietnam đã hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ được Đảng và Chính phủ giao.
Ngày 01/01/2023, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính thăm, làm việc, động viên người lao động BSR – một trong những đơn vị chủ lực của Petrovietnam vượt qua khó khăn, tận dụng cơ hội thị trường, đạt kỷ lục về doanh thu trong năm 2022
Link full phim tài liệu Tổng kết công tác năm 2022 của Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam.
Năm 2022 là năm thứ ba công tác “Quản trị biến động” của Petrovietnam đạt được thành tích ấn tượng; là yếu tố quan trọng, quyết định toàn diện đến kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh. Petrovietnam đã triển khai thành công các giải pháp ứng phó trước các biến động địa kinh tế – chính trị và đã đạt nhiều kỷ lục quan trọng, với 8 dấu ấn nổi bật. Đây chính là động lực, niềm tin để Petrovietnam tiếp tục phát triển ổn định, bền vững và vươn xa.
- Quản trị biến động đã trở thành văn hóa trong quản trị doanh nghiệp của Petrovietnam, tạo nên những thành tích ấn tượng

Giàn Cá Tầm 02, một trong 05 mỏ/công trình dầu khí mới vào khai thác trong năm 2022
- Tất cả các nhiệm vụ, chỉ tiêu của toàn Tập đoàn đều tăng trưởng cao so với năm 2021, là động lực cho tăng trưởng, là bài học kinh nghiệm, là niềm tin lan toả để Petrovietnam phát triển bền vững.
- Đưa 05 mỏ/công trình dầu khí mới vào khai thác, nhiều hơn 01 mỏ công trình so với kế hoạch năm, nhiều hơn 02 mỏ/công trình so với năm 2021 (năm 2021 đưa 3 mỏ/công trình vào khai thác).
- Gia tăng trữ lượng dầu khí, khai thác dầu khí, sản xuất đạm, điện, sản xuất kinh doanh xăng dầu tăng từ 3 -26% so với năm 2021.
- Năm thứ ba liên tiếp Petrovietnam được Fitch Ratings đánh giá xếp hạng tín nhiệm ở mức BB+.
- Vượt qua khó khăn, tận dụng cơ hội thị trường, lập nhiều kỷ lục trong 61 năm xây dựng và phát triển ngành Dầu khí Việt Nam

Ngày 01/01/2023, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính thăm, làm việc, động viên người lao động BSR – một trong những đơn vị chủ lực của Petrovietnam vượt qua khó khăn, tận dụng cơ hội thị trường, đạt kỷ lục về doanh thu trong năm 2022
- Doanh thu toàn Tập đoàn đạt 931,2 nghìn tỷ đồng (trong khi sản lượng dầu khí suy giảm cùng với đà suy giảm của mỏ, giá dầu năm 2022 đạt 107USD/thùng, sản lượng năm 2022 đạt 18,92 triệu tấn quy dầu; trước đây năm 2012 đạt cao nhất với giá trị 774 nghìn tỷ đồng, giá dầu thô năm 2012 đạt 117,6USD/thùng khai thác dầu khí trong nước năm 2012 đạt 24,99 triệu tấn quy dầu).
- Lợi nhuận trước thuế hợp nhất Tập đoàn đạt 82,2 nghìn tỷ đồng (trước đây năm 2013 đạt cao nhất 70,6 nghìn tỷ đồng, giá dầu năm 2013 đạt 112,5USD/thùng, khai thác dầu khí trong nước năm 2013 đạt 25 triệu tấn quy dầu).
- Xuất khẩu đạm của Tập đoàn đạt mức kỷ lục với sản lượng 606 nghìn tấn, tăng 2,1 lần so với năm 2021.
- Hầu hết các đơn vị chủ lực của Petrovietnam đạt kỷ lục về tài chính, cụ thể: (i) Về doanh thu gồm: BSR (166 nghìn tỷ đồng); PVGas (101 nghìn tỷ đồng); PVOil (100 nghìn tỷ đồng); PVFCCo (19,4 nghìn tỷ đồng); PVCFC (14,8 nghìn tỷ đồng); PVTrans (9,2 nghìn tỷ đồng). (ii) Về lợi nhuận trước thuế gồm: PVGas (16,6 nghìn tỷ đồng), BSR (12,7 nghìn tỷ đồng), PVFCCo (6,4 nghìn tỷ đồng), PVCFC (4,0 nghìn tỷ đồng), PVTrans (1,4 nghìn tỷ đồng). (iii) Nộp NSNN gồm: BSR (18 nghìn tỷ đồng), PVGas (7,2 nghìn tỷ đồng), PVFCCo (1,5 nghìn đồng), PVCFC (580 tỷ đồng).
- Góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, bình ổn thị trường, gia tăng kim ngạch xuất khẩu

Tại cảng xuất hàng PVCFC. Năm 2022, xuất khẩu sản phẩm phân đạm của Petrovietnam tiếp tục lập kỷ lục với kim ngach đạt trên 405 triệu USD, chiếm 37% giá trị xuất khẩu phân bón của cả nước
- Tổng Doanh thu toàn Tập đoàn tương đương 9,8% GDP cả nước[1]; Nộp NSNN chiếm tỷ trọng 9,5% tổng thu ngân sách cả nước[2].- Đây là tỷ trọng cao nhất kể từ năm 2015 đến nay, cao hơn so với tỷ trọng trung bình của giai đoạn 2016-2021 (7,6%).
- Petrovietnam ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia; cân đối vĩ mô và tham gia mạnh mẽ vào bình ổn thị trường; cung cấp nhiên liệu cho an ninh Quốc phòng; đã cung ứng trên 13 triệu tấn xăng dầu, đáp ứng trên 75% nhu cầu xăng dầu cả nước.
- Xuất khẩu sản phẩm phân đạm của PVN tiếp tục lập kỷ lục với kim ngach đạt trên 405 triệu USD, chiếm 37% giá trị xuất khẩu phân bón của cả nước.
- Thúc đẩy, hoàn thiện thể chế; Luật Dầu khí năm 2022 chính thức được thông qua

Luật Dầu khí 2022 đã được Quốc hội thông qua vào ngày 14/11/2022
- Công tác hoàn thiện quy trình, quy chế, quy định, chính sách pháp luật được Petrovietnam đặc biệt quan tâm, nổi bật là Luật Dầu khí 2022 đã được Quốc hội thông qua vào ngày 14/11/2022, đã thể chế hóa đầy đủ các chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước về định hướng chiến lược phát triển ngành dầu khí Việt Nam, phát triển bền vững kinh tế biển cũng như phát triển năng lượng quốc gia.
- Hoàn thành 06 Bộ Quy chế quản trị được cụ thể bằng 137 văn bản và đã được số hoá.
- Hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển và ứng dụng công nghệ đóng góp thiết thực, tạo đột phá

Năm 2022, 03 công trình, cụm công trình Dầu khí được trao Giải thưởng Hồ Chí Minh, 03 công trình Dầu khí được trao Giải thưởng Nhà nước về khoa học công nghệ
- Petrovietnam tập trung đưa các ứng dụng công nghệ mới nhất của thế giới áp dụng trong ngành nhằm tạo ra đột phá phát triển, nâng cao năng suất lao động và khả năng cạnh tranh tại các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh; được minh chứng rõ nét trong khai thác dầu khí, giúp công tác khai thác vượt kế hoạch sản lượng dầu khí, đặc biệt trong giai đoạn các mỏ dầu khí lớn ở khu vực truyền thống đã qua thời kỳ khai thác ổn định đang trên đà suy giảm sản lượng tự nhiên.
- Vinh quang đã đến với người dầu khí: 03 công trình, cụm công trình được trao Giải thưởng Hồ Chí Minh, 03 công trình được trao Giải thưởng Nhà nước về khoa học công nghệ (chiếm tỷ lệ hơn 20% tổng giải thưởng của cả nước); 7 công trình nghiên cứu khoa học công nghệ đoạt giải VIFOTEC.
- Công tác quản trị đầu tư đạt kết quả tích cực

Tháng 7/2022, Khánh thành và đưa vào vận hành thương mại Nhà máy Nhiệt điện Sông Hâu 1
- Quản trị tốt danh mục đầu tư trong tất cả 05 lĩnh vực, tập trung các nguồn lực đầu tư vào các dự án có hiệu quả cao; rà soát kế hoạch đầu tư, đẩy mạnh công tác giám sát đầu tư, ưu tiên nguồn vốn cho các dự án cấp bách.
- Giá trị giải ngân đạt 26,5 nghìn tỷ đồng, tăng 42% so với năm 2021.
- PetroVietnam đã khởi động và hồi sinh Dự án nhiệt điện Thái Bình 2; tiếp tục hoàn thiện các thủ tục để sẵn sàng tái khởi động dự án Nhà máy nhiệt điện Long Phú 1; Khánh thành và đưa vào vận hành thương mại Nhà máy Nhiệt điện Sông Hâu 1.
- Công tác chuyển đổi số đạt được những kết quả bước đầu, hình thành nền tảng đồng bộ của Petrovietnam

Petrovietnam đẩy nhanh tiến trình chuyển đổi số, đã tối ưu hoạt động sản xuất kinh doanh, triển khai xây dựng các nhà máy thông minh, nâng cao trải nghiệm khách hàng, nâng cao sức cạnh tranh và đạt được những lợi ích thiết thực. (Ảnh: Thanh toán bằng giao dịch điện tử, đọc mã QR tại cây xăng PVOIL)
- Petrovietnam đã hoàn thành số hóa toàn bộ các văn bản và thường xuyên cập nhật trên các ứng dụng AI và tích hợp hệ thống quản trị nguồn doanh nghiệp (ERP);
- Petrovietnam đẩy nhanh tiến trình chuyển đổi số, đã tối ưu hoạt động sản xuất kinh doanh, triển khai xây dựng các nhà máy thông minh, nâng cao trải nghiệm khách hàng, nâng cao sức cạnh tranh và đạt được những lợi ích thiết thực.
- Tái tạo văn hóa Petrovietnam, nâng cao giá trị thương hiệu

Từ những kết quả, thành công của việc tái tạo văn hóa Petrovietnam trong thời gian qua, khẳng định nền tảng giá trị cốt lõi “Khát vọng – Trí tuệ – Chuyên nghiệp – Nghĩa tình”
- Từ những kết quả, thành công của việc tái tạo văn hóa Petrovietnam trong thời gian qua, khẳng định nền tảng giá trị cốt lõi “Khát vọng – Trí tuệ – Chuyên nghiệp – Nghĩa tình”; phục hồi thương hiệu Petrovietnam – Tập đoàn kinh tế, năng lượng chủ lực của đất nước, góp phần đảm bảo an ninh năng lượng, an ninh lương thực, an ninh kinh tế và tham gia bảo vệ chủ quyền an ninh quốc gia trên biển.
- Giá trị thương hiệu của Petrovietnam hiện tại đạt gần 1,3 tỷ USD, duy trì vị trí trong top thương hiệu giá trị nhất Việt Nam.
[1] Tổng doanh thu toàn Tập đoàn đạt 931,2 nghìn tỷ đồng/GDP (theo giá hiện hành) năm 2022 đạt 9513,3 nghìn tỷ đồng (Nguồn: Tổng cục Thống kê).
[2] Nộp NSNN toàn Tập đoàn đạt 170,6 nghìn tỷ đồng/Tổng thu NSNN cả nước đạt 1804 nghìn tỷ đồng (Nguồn: Báo cáo Chính phủ ngày 03-01-2023).
Ngày Doanh nhân Việt Nam 13/10 được nhiều người gọi là Tết doanh nhân. Năm nay, Tết doanh nhân mang một màu sắc tươi mới khi cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam vừa vượt qua cơn bão đại dịch Covid-19. Trong đó, Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) nổi bật lên với sự phục hồi tăng trưởng đầy ấn tượng.
Nhân dịp kỷ niệm Ngày Doanh nhân Việt Nam, sáng 10/10/2022 tại Phủ Chủ tịch, đồng chí Hoàng Quốc Vượng – Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐTV và đồng chí Lê Mạnh Hùng – Tổng Giám đốc Petrovietnam đã cùng lãnh đạo các doanh nghiệp thuộc Đảng bộ Khối Doanh nghiệp Trung ương có cuộc gặp gỡ với Chủ tịch Nước Nguyễn Xuân Phúc. Báo cáo Chủ tịch Nước, đồng chí Hoàng Quốc Vượng – Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐTV Tập đoàn đã nêu bật một số kết quả, thành tựu của Petroietnam trong những năm vừa qua. Qua hơn 6 thập kỷ hình thành và phát triển, từ tiền thân là một đoàn khảo sát nhỏ bé, Petrovietnam đã trở thành một tập đoàn kinh tế lớn mạnh có tổng tài sản hợp nhất trên 40 tỷ USD; nguồn vốn chủ sở hữu hợp nhất 21,5 tỷ USD; với đội ngũ gần 60.000 CBCNV đang lao động sáng tạo trên các các lĩnh vực của chuỗi giá trị dầu khí, cụ thể: Tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí; Công nghiệp khí; Chế biến dầu khí; Công nghiệp điện và năng lượng tái tạo; và Dịch vụ kỹ thuật Dầu khí chất lượng cao. Trong những năm qua, cùng với các tổ chức Đảng thuộc Đảng bộ Khối Doanh nghiệp Trung ương, Đảng ủy Tập đoàn đã lãnh đạo để Petrovietnam có những đóng góp quan trọng cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; góp phần bảo đảm an ninh năng lượng, an ninh lương thực; đóng góp lớn vào nguồn thu ngân sách và phát triển kinh tế – xã hội của đất nước; đi đầu trong hội nhập kinh tế quốc tế, góp phần tích cực vào công cuộc bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc.

Chủ tịch Nước Nguyễn Xuân Phúc chúc mừng Chủ tịch HĐTV Petrovietnam Hoàng Quốc Vượng
Năm 2020, một năm có thể nói là khó khăn nhất trong lịch sử 47 năm thành lập của Petrovietnam tính đến nay khi Tập đoàn phải đối mặt với khủng hoảng kép của đại dịch Covid-19 và sự suy giảm giá dầu thô chưa từng có trong lịch sử giao dịch dầu khí. Song, bằng cách thực hiện có hiệu quả gói giải pháp ứng phó tác động kép, từng bước xử lý các vấn đề tồn tại và thiết lập lại nền tảng cho sự phát triển bền vững, kết thúc năm 2020, Petrovietnam đã cơ bản hoàn thành và hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu kế hoạch được giao, đóng góp vào ngân sách nhà nước 83 nghìn tỷ đồng, đạt 101% kế hoạch năm 2020, góp phần quan trọng vào tăng trưởng GDP cả nước và cân đối ngân sách nhà nước.
Bước sang năm 2021, kế thừa và tiếp tục phát huy những kết quả đạt được, Petrovietnam vẫn tiếp tục vững vàng vượt qua sóng gió, hoàn thành toàn diện các mặt hoạt động sản xuất kinh doanh (SXKD), đạt mục tiêu tăng trưởng, nộp ngân sách Nhà nước 112,5 nghìn tỷ đồng, vượt 80% kế hoạch năm, tăng 36% so với năm 2020. Kết quả SXKD của Petrovietnam đã dẫn đầu 19 tập đoàn, tổng công ty thuộc Ủy ban Quản lý vốn Nhà nước tại doanh nghiệp.
Với việc đảm bảo duy trì nhịp độ khai thác, đặc biệt là ở các mỏ khai thác chủ lực; công tác quản trị sản lượng, các giải pháp kỹ thuật được áp dụng liên tục, đồng bộ và kịp thời, trong 9 tháng đầu năm 2022 vừa qua, Petrovietnam đã khai thác dầu thô đạt 8,15 triệu tấn, vượt 23% KH 9 tháng và bằng 93% KH năm 2022, bằng mức thực hiện cùng kỳ năm 2021. Sản xuất đạm 9 tháng, vượt 9% KH 9 tháng, tăng 7% so với cùng kỳ năm 2021. Sản xuất xăng dầu (không gồm Cty Lọc hóa dầu Nghi Sơn) 9 tháng đạt 5,16 triệu tấn, vượt 9% KH 9 tháng và tăng 8% so với cùng kỳ năm 2021. Sản xuất khí, điện và các sản phẩm khác đáp ứng tối đa nhu cầu thị trường.
Cùng với nỗ lực trong sản xuất, các chỉ tiêu tài chính của Petrovietnam hoàn thành vượt mức cao so với KH. Tổng doanh thu toàn Tập đoàn 9 tháng đầu năm 2022 ước đạt 698,3 nghìn tỷ đồng, vượt 25% KH cả năm và tăng 56% so với cùng kỳ 2021. Nộp ngân sách toàn Tập đoàn ước đạt 102,9 nghìn tỷ đồng, vượt 59% KH năm 2022 và tăng 51% so với cùng kỳ 2021, đóng góp lớn cho nguồn thu ngân sách cả nước. Đến hết 9 tháng đầu năm, Petrovietnam đã hoàn thành vượt mức, về đích trước 4 chỉ tiêu: Doanh thu toàn Tập đoàn, Doanh thu hợp nhất, Lợi nhuận trước thuế hợp nhất và nộp NSNN.
Với những kết quả thành tích đó, Petrovietnam đã liên tiếp nằm trong Top 10 “Thương hiệu giá trị nhất Việt Nam”. Theo đánh giá mới đây của Brand Finance, công ty định giá thương hiệu hàng đầu thế giới, thương hiệu Petrovietnam được định giá gần 1,3 tỷ USD, tăng so với 918 triệu USD của kỳ định giá năm 2021; chỉ số sức mạnh thương hiệu 70,8 và duy trì xếp hạng sức mạnh thương hiệu ở mức AA.

Đại diện Petrovietnam nhận vinh danh Top 10 thương hiệu giá trị nhất Việt Nam năm 2022
Ngày 12/10/2022, Petrovietnam tiếp tục lọt Top 10 “Thương hiệu mạnh Việt Nam” được cơ quan báo chí hàng đầu lĩnh vực kinh tế của Việt Nam (Vietnam Economic Times) bình chọn thông qua hệ thống báo chí, truyền thông. Chương trình ghi nhận và vinh danh những thương hiệu doanh nghiệp uy tín, hoạt động hiệu quả, có nhiều thành tích ấn tượng trong khôi phục và phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh sau tác động nghiêm trọng của đại dịch Covid-19. Trong đó, Petrovietnam thể hiện rõ tầm nhìn, sứ mệnh cũng như kế hoạch hành động trong việc chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, phát triển bền vững, nhân văn và bao trùm.

Đại diện 10 Thương hiệu mạnh Việt Nam được vinh danh tại chương trình
Không chỉ dừng lại có vậy, Bảng xếp hạng Profit500 được tổ chức Vietnam Report thực hiện đã khẳng định Petrovietnam là doanh nghiệp có lợi nhuận tốt nhất Việt Nam năm 2022. Đây là hoạt động thường niên nhằm tôn vinh các doanh nghiệp có khả năng tạo lợi nhuận tốt, có tiềm năng trở thành những cột trụ cho sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam, đồng thời góp phần giới thiệu thương hiệu doanh nghiệp Việt tới cộng đồng kinh doanh trong nước và quốc tế.

Top 10 Bảng xếp hạng Doanh nghiệp lợi nhuận tốt nhất Việt Nam năm 2022
Tại Lễ kỷ niệm ngày Doanh nhân Việt Nam do Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) tổ chức, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã trao tặng Tổng Giám đốc Petrovietnam Lê Mạnh Hùng danh hiệu “Doanh nhân Việt Nam tiêu biểu nhất năm 2022”. Danh hiệu Doanh nhân Việt Nam tiêu biểu được VCCI tổ chức bình xét và trao tặng dựa trên những nỗ lực, đóng góp to lớn của cộng đồng doanh nhân, doanh nghiệp, cả trong xây dựng, phát triển kinh tế đất nước, cả trong chung sức cùng cả nước chống đại dịch COVID-19 thời gian qua. Họ là người lãnh đạo, quản lý các doanh nghiệp, thuộc đủ các thành phần kinh tế, mỗi doanh nhân đều là một tấm gương, một câu chuyện hay về tinh thần lập nghiệp, bản lĩnh, trí tuệ và cả trách nhiệm xã hội. Năm nay là năm đầu tiên Top 10 Doanh nhân Việt Nam tiêu biểu nhất hội tụ các gương mặt là những doanh nhân có danh tiếng. Sự ghi nhận đối với Tổng giám đốc Lê Mạnh Hùng cũng là niềm vinh dự chung của Petrovietnam.

Thủ tướng Phạm Minh Chính trao tặng danh hiệu Top10 Doanh nhân tiêu biểu nhất Việt Nam 2022 cho Tổng Giám đốc Petrovietnam Lê Mạnh Hùng
Những danh hiệu mà Petrovietnam liên tiếp đạt được trong thời gian ngắn vừa qua đều được đánh giá và ghi nhận khách quan bởi các tổ chức uy tín trong nước và quốc tế. Đó không chỉ là một món quà lớn đầy ý nghĩa dành cho tập thể lãnh đạo, cán bộ nhân viên, người lao động Dầu khí nhân dịp Tết doanh nhân 13/10, mà còn một lần nữa khẳng định sức mạnh thương hiệu, tình hình tài chính lành mạnh, năng lực quản trị biến động linh hoạt và hiệu quả hoạt động của Petrovietnam trong những năm gần đây./.
Trong sửa đổi Luật Dầu khí, Hợp đồng dầu khí là một nội dung quan trọng nhận được sự quan tâm rất lớn của cơ quan quản lý, nhà làm luật, các chuyên gia, doanh nghiệp. Bởi đây là văn bản pháp lý quan trọng gắn liền với quá trình triển khai các hoạt động dầu khí. Đến nay, Dự thảo Luật đã tiếp thu, sửa đổi nhiều vấn đề trong Hợp đồng dầu khí, nhận được sự đồng thuận cao. Tuy nhiên, vẫn còn một số nội dung cần tiếp tục xem xét, chỉnh lý để Dự thảo Luật tăng tính khả thi, đi vào cuộc sống và không tạo ra những rào cản mới.
Vì sao cần có Hợp đồng dầu khí bằng tiếng Anh?
Từ khi Dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi) được đưa ra lấy ý kiến góp ý, chỉnh sửa, đã có rất nhiều ý kiến chuyên gia, doanh nghiệp xoay quanh ngôn ngữ trong hợp đồng dầu khí. Tuy nhiên, đến nay Dự thảo Luật đang được lấy ý kiến các đoàn đại biểu Quốc hội, vẫn chưa thấy có tiếp thu, sửa đổi. Cụ thể, theo Khoản 1, Điều 34 Dự thảo Luật hiện vẫn đang quy định ngôn ngữ sử dụng trong hợp đồng dầu khí là tiếng Việt trong trường hợp tại thời điểm ký Hợp đồng dầu khí mà nhà thầu được lựa chọn là nhà thầu Việt Nam. Điều này được giải thích rằng, chúng ta sẵn sàng sử dụng hai ngôn ngữ trong trường hợp Hợp đồng được ký kết với nhà thầu nước ngoài ở Khoản 2 điều này. Tuy nhiên, các chuyên gia, doanh nghiệp cho rằng, quy định ngôn ngữ trong Hợp đồng dầu khí vẫn chưa phù hợp.
Ông Nguyễn Minh, Trưởng ban pháp lý và thương mại Eni Việt Nam cho rằng, nhà đầu tư nước ngoài muốn có hai ngôn ngữ khi ký kết Hợp đồng dầu khí. Bởi nếu Hợp đồng dầu khí giữa hai công ty Việt Nam ký kết với nhau là ngôn ngữ tiếng Việt nhưng đến khi công ty nước ngoài muốn tham gia vào thì lúc đó phải chỉnh sửa lại rất khó khăn. Còn nếu công ty nước ngoài muốn tham gia vào Hợp đồng dầu khí mà hợp đồng chỉ có ngôn ngữ tiếng Việt, hoặc được dịch sang tiếng Anh mà không được các bên ký thì họ rất lo ngại.

Ông Nguyễn Minh, Trưởng ban pháp lý và thương mại Eni Việt Nam cho ý kiến về ngôn ngữ trong hợp đồng dầu khí
Đồng quan điểm trên, ông Vương Minh Đức, Giám đốc Kỹ thuật và An toàn sức khỏe môi trường Công ty TNHH Thăm dò và Khai thác Dầu khí ExxonMobil Vietnam và ông Đỗ Ngọc Thanh, Phó Tổng Giám đốc Công ty TNHH Dầu khí Việt Nhật cũng cho rằng, hoạt động của ngành Dầu khí trên thế giới xoay quanh ngôn ngữ tiếng Anh. Trong đó, có rất nhiều từ ngữ chuyên ngành có thể sẽ không thể giải nghĩa một cách chính xác trong tiếng Việt. Hợp đồng dầu khí được ký kết ngay từ ban đầu bằng tiếng Anh là rất cần thiết, điều này cũng đã trở thành một thông lệ quốc tế, là một điểm tạo thuận lợi thu hút đầu tư nước ngoài, nếu không thì đây sẽ trở thành một rào cản mới trong thu hút đầu tư.
Thực tế, đặc thù của hoạt động dầu khí là mang tính quốc tế cao. Ngành Dầu khí nước ta vẫn sử dụng ngôn ngữ trong Hợp đồng dầu khí bằng tiếng Việt và tiếng Anh; điều đó không có vướng mắc, khó khăn gì. Vì vậy, đây không phải là một điểm cần phải sửa đổi trong Luật Dầu khí. Dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi) quy định như trên có thể coi là một điểm đi lùi trong cơ chế chính sách đối với hoạt động dầu khí. Điều này không phù hợp với việc xây dựng hệ thống pháp luật nói chung và hệ thống pháp luật về dầu khí nói riêng, không cải thiện môi trường đầu tư trong lĩnh vực này.
Do đó, để phù hợp với đặc điểm của hoạt động dầu khí là hoạt động mang tính chuyên ngành và mang tính quốc tế cao, đồng thời tạo điều kiện cho các nhà thầu dầu khí tiềm năng tiếp cận với Hợp đồng dầu khí hiện hữu thì tại thời điểm ký kết Hợp đồng dầu khí nên được ký kết bằng tiếng nước ngoài thông dụng (thường là tiếng Anh) ngay từ thời điểm ký kết hợp đồng mà không phụ thuộc vào quốc tịch của nhà thầu tại thời điểm ký hợp đồng.
Tránh chồng chéo, đảm bảo tính khả thi và phù hợp với thực tiễn
Bên cạnh đó, nhằm giải quyết xung đột, chồng chéo trong quá trình áp dụng Luật Dầu khí với Luật quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp (Luật QLSDVNN), việc bổ sung quy định tại Điều 36 Dự thảo luật về quy trình thực hiện chuyển nhượng quyền lợi tham gia trong trường hợp Petrovietnam/doanh nghiệp 100% vốn của Petrovietnam là Bên chuyển nhượng sẽ được thực hiện theo Luật Dầu khí là rất cần thiết.
Bởi thực tế triển khai việc chuyển nhượng này cho thấy, việc quy định nội dung này vào Luật QLSDVNN là không phù hợp vì đặc điểm của “tài sản dầu khí” chào bán là khác biệt nên việc phải tổ chức chào hàng cạnh tranh dựa trên kết quả thẩm định của một tổ chức độc lập về giá trị khởi điểm của tài sản là không khả thi và phù hợp. Thứ nhất, không có tổ chức nào có thể định giá được tài sản dầu khí này. Thứ hai, việc thuê các tổ chức thẩm định giá trị tài sản chào bán và tổ chức chào hàng cạnh tranh sẽ khó tránh khỏi việc không đảm bảo các yếu tố về quốc phòng, an ninh.
Ngoài ra, với quy định liên quan đến quản lý và sử dụng vốn nhà nước trong hoạt động dầu khí (quản lý vốn của Petrovietnam và doanh nghiệp (DN) 100% vốn của Petrovietnam trong thực hiện đầu tư các dự án dầu khí), thì Dự thảo Luật (Điều 63 và Điều 66) chỉ có quy định thẩm quyền của Hội đồng thành viên (HĐTV) và Ủy ban Quản lý vốn Nhà nước tại doanh nghiệp (UBQLVNN) liên quan đến việc sử dụng vốn của Petrovietnam và Công ty 100% vốn của Petrovietnam tham gia các dự án/hoạt động dầu khí. Cụ thể, giao toàn bộ việc phê duyệt sử dụng vốn của Petrovietnam và doanh nghiệp 100% vốn của Petrovietnam cho HĐTV Tập đoàn này (Điều 63 Dự thảo Luật Dầu khí sửa đổi); và trách nhiệm (thẩm quyền) của UBQLVNN chỉ gửi ý kiến về việc sử dụng vốn của Petrovietnam để Bộ Công Thương xem xét thẩm định (Điều 66 Dự thảo Luật Dầu khí sửa đổi).

Hoạt động Dầu khí trên biển ngoài vấn đề kinh tế, còn gắn với an ninh, quốc phòng
Quy định trên không rõ về trình tự, thủ tục, hồ sơ để Hội đồng Thành viên Petrovietnam phê duyệt trong trường hợp Petrovietnam/DN 100% vốn của Petrovietnam thực hiện hoạt động dầu khí theo các giai đoạn của Hợp đồng phân chia sản phẩm (PSC) và dự án dầu khí; và không quy định rõ về các bước, trình tự để UBQLVNN tham gia ý kiến về việc sử dụng vốn của Petrovietnam tại các dự án, hoạt động dầu khí. Cụ thể, nếu trong trường hợp UBQLVNN có ý kiến “không đồng ý” hoặc “việc sử dụng vốn của Petrovietnam cần xem xét lại” thì Bộ Công Thương có thẩm định và quyết định trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt được không? Thêm nữa, khi triển khai dự án dầu khí có sự tham gia của Petrovietnam và DN 100% vốn của Petrovietnam thì Petrovietnam vẫn phải đồng thời thực hiện 2 quy trình. Cụ thể: các hồ sơ trình phê duyệt kế hoạch đại cương phát triển mỏ dầu khí (ODP), kế hoạch khai thác sớm mỏ dầu khí (EDP), kế hoạch phát triển mỏ dầu khí (FDP) theo Luật Dầu khí; các hồ sơ trình UBQLVNN về việc phê duyệt phương án vốn cho việc triển khai ODP/EDP/FDP. Sau khi đã có sự chấp thuận của cả cơ quan quản lý nhà nước về dầu khí và UBQLVNN, Petrovietnam thực hiện phê duyệt riêng và hệ quả của việc này là quá trình trình và phê duyệt sẽ bị kéo dài và chồng chéo. Đây cũng chính là vấn đề vướng mắc hiện nay chưa giải quyết được.
Ông Nguyễn Quốc Thập – Chủ tịch Hội Dầu khí Việt Nam đánh giá cao Dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi) và kỳ vọng những vướng mắc còn tồn tại sẽ tiếp tục được chỉnh lý trong Dự thảo hoặc trong Thông tư hướng dẫn thi hành Luật; cũng như mong muốn Luật Dầu khí sửa đổi với những điểm mới, tiến bộ sẽ sớm được thông qua và thực thi, đáp ứng kỳ vọng của của Đảng, nhà nước, xã hội và doanh nghiệp.
Nhân dịp kỷ niệm 47 năm Ngày thành lập Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (3/9/1975 – 3/9/2022), thay mặt Đảng ủy, lãnh đạo Tập đoàn, đồng chí Hoàng Quốc Vượng, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng Thành viên đã gửi thư chúc mừng tới các thế hệ lãnh đạo, người lao động Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam.
Dưới đây là toàn văn Thư chúc mừng của Chủ tịch:
Với các giải pháp quản trị điều hành hiệu quả, linh hoạt, đặc biệt là quản trị biến động, phát huy hiệu quả chuỗi giá trị toàn ngành Dầu khí trong vòng 3 năm trở lại đây, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (Petrovietnam) không những trụ vững trong gian khó mà còn vươn lên đầy ngoạn mục.

Người lao động Dầu khí làm việc trên công trình
PV: Thưa Tổng giám đốc, ông có thể chia sẻ vì sao quản trị biến động là trọng tâm trong phương châm hành động của Petrovietnam trong suốt 3 năm qua?
Tổng giám đốc Lê Mạnh Hùng: Petrovietnam là một tập đoàn kinh tế có quy mô lớn hàng đầu đất nước hoạt động trong 5 lĩnh vực chính là thăm dò, khai thác dầu khí, công nghiệp khí, công nghiệp điện – năng lượng tái tạo, chế biến dầu khí, dịch vụ kỹ thuật dầu khí. Với mô hình quản trị gồm công ty mẹ và các công ty con, công ty liên kết lên tới hàng trăm công ty. Các sản phẩm chủ lực của Petrovietnam gắn với nhu cầu thiết yếu cho phát triển kinh tế – xã hội, như dầu thô, khí đốt, điện, xăng dầu, phân bón… Bên cạnh đó, Petrovietnam còn là một doanh nghiệp đặc thù, vừa đại diện cho nhà nước quản lý hoạt động dầu khí, vừa là một doanh nghiệp sản xuất kinh doanh (SXKD) theo cơ chế thị trường… Vì thế, Petrovietnam là một bộ máy rất lớn, vận hành liên tục, đồng bộ, chịu tác động mạnh mẽ bởi cả môi trường bên ngoài lẫn các yếu tố bên trong. Các tác động này có thể giúp bộ máy hoạt động mạnh mẽ hơn nếu quản trị tốt, cũng có thể khiến bộ máy suy yếu nếu không hạn chế được tiêu cực.
Những biến động bên ngoài như biến động của môi trường kinh doanh (cung cầu, giá cả, các yếu tố kinh tế vĩ mô…), môi trường pháp lý (các chính sách, cơ chế, luật pháp…), khoa học công nghệ (tốc độ phát triển, chuyển đổi số, dịch chuyển năng lượng…) và môi trường tự nhiên (biến đổi khí hậu…). Tất cả những hoạt động của ngành Dầu khí luôn chịu tác động rất lớn bởi các yếu tố này.
Nội tại của Petrovietnam cũng có sự thay đổi rất lớn trong những năm qua. Về cấu trúc tổ chức, mô hình hoạt động, từ chỗ hầu hết các đơn vị 100% vốn nhà nước hoặc nhà nước chi phối, nay đã có rất nhiều công ty thành viên của Petrovietnam chuyển sang công ty cổ phần, liên doanh, liên kết… Nguồn nhân lực cũng có sự biến động. Các thế hệ tiếp nối thay thế nhau, các thời kỳ khó khăn, thuận lợi cũng thay đổi theo thời gian.
Thực tế đó chính là những yếu tố biện chứng để ban lãnh đạo Petrovietnam xây dựng triết lý quản trị hiệu quả trong thời kỳ biến động. Mô hình càng lớn sẽ chịu tác động càng nhiều. Cái gốc rễ là phải quản trị, thay đổi một cách căn bản kể cả trong văn hóa doanh nghiệp, với mục tiêu cuối cùng là thích ứng kịp thời, giảm thiểu tác động tiêu cực đến hệ sinh thái kinh doanh, tận dụng được các cơ hội để thu về thành quả.
Thực tế trong nhiều năm qua, quản trị biến động đã thấm sâu, trở thành văn hóa trong quản trị doanh nghiệp của Petrovietnam, không chỉ ở công ty mẹ mà còn ở tất cả các đơn vị thành viên. Petrovietnam luôn chú trọng bám sát diễn biến của thị trường, cập nhật các chính sách, sự phát triển của khoa học công nghệ, của môi trường tự nhiên, chính trị xã hội… từ đó nghiên cứu và xây dựng nhiều kịch bản, giải pháp tương ứng. Ban lãnh đạo Petrovietnam đã ban hành Quyết định số 110 về “Bộ giải pháp ứng phó” cho 5 nhóm quản trị, thị trường, tài chính, đầu tư và cơ chế chính sách vào đầu năm 2020. Trước mỗi kỳ điều hành, lãnh đạo các đơn vị đều phải chủ động thực hiện các dự báo, xây dựng kịch bản và điều chỉnh các kế hoạch SXKD cho phù hợp thực tế. Petrovietnam phân cấp đồng bộ, giao quyền cho người hiểu rõ nhất về công việc ra quyết định và chịu trách nhiệm, để có những quyết định nhanh chóng, chính xác và ứng biến kịp thời. Sự lãnh đạo, điều phối nguồn lực, hỗ trợ, cùng với kiểm tra, giám sát, quản trị rủi ro từ Petrovietnam đến các đơn vị thành viên phải nhất quán, có hệ thống, kết nối chuỗi giá trị, đảm bảo tính liên tục và hướng đích…
Quản trị biến động là yếu tố rất quan trọng mà trong những năm gần đây Petrovietnam luôn đặt lên hàng đầu, sau này vẫn sẽ tiếp tục như vậy, bởi vì bản chất của vạn vật là luôn vận động, thay đổi không ngừng để phát triển.
7 tháng năm 2022, nhờ quản trị biến động, Petrovietnam có thể đẩy mạnh sản lượng lọc dầu, tận dụng được thời kỳ biên lợi nhuận của ngành lọc dầu rất cao. Ngành phân bón cũng có hiệu quả tốt do giá thị trường thuận lợi và sản xuất an toàn, ổn định ...
PV: 7 tháng năm 2022, sản lượng khai thác dầu thô, cung ứng khí – điện cùng các sản phẩm năng lượng khác của Petrovietnam đều vượt kế hoạch, các chỉ tiêu tài chính rất khả quan. Quản trị biến động đã đóng góp như thế nào vào kết quả đó, thưa Tổng giám đốc?
Tổng giám đốc Lê Mạnh Hùng: Trước hết, nhìn lại bài học quản trị của năm 2020. Khi giá dầu xuống mức thấp nhất trong lịch sử bởi tác động của đại dịch Covid-19 và thị trường dầu khí, phương châm của Petrovietnam lúc đó là bằng mọi cách phải tối ưu giá trị trong từng lĩnh vực, đưa chi phí, giá vốn về mức “cạnh tranh sống còn”. Nhu cầu thị trường trong cơn bão đại dịch Covid-19 cũng giảm xuống rất thấp, phải tìm mọi cách đẩy mạnh tiêu thụ, tránh tồn kho. Vì tài chính khó khăn nên phải nỗ lực vượt khó, đồng thời chắt chiu, tận dụng mọi cơ hội để triển khai SXKD an toàn. Với những phương châm hành động đó, Petrovietnam đã vượt qua năm 2020 một cách ngoạn mục với tổng doanh thu trên 566 nghìn tỉ đồng, nộp ngân sách 83 nghìn tỉ đồng và đạt lợi nhuận hợp nhất trên 19,9 nghìn tỉ đồng.
Đến năm 2021, khi đã đưa giá vốn về mức cạnh tranh nhất (tối ưu), phải tiếp tục tối đa nó bằng cách kết nối các đơn vị lại với nhau, để đưa các tài sản đã đầu tư vào sử dụng một cách hiệu quả nhất và phải đưa doanh thu lên mức tối đa. Trong năm 2021, BSR đã lần đầu tiên vượt mốc 100 nghìn tỉ đồng, PV GAS cũng lần đầu vượt 80 nghìn tỉ đồng… Petrovietnam đã đạt tổng doanh thu trên 640 nghìn tỉ đồng, nộp ngân sách 112,5 nghìn tỉ đồng, đặc biệt là đạt mức lợi nhuận hợp nhất cao nhất từ năm 2015 đến nay, xấp xỉ 52 nghìn tỉ đồng.

Người lao động PV GAS
Tiếp tục đà tăng trưởng đó, năm 2022 dự báo sẽ đánh dấu thêm một cột mốc mới của Petrovietnam cả về doanh thu lẫn lợi nhuận, nộp ngân sách. Sản lượng khai thác của Petrovietnam từ đầu năm 2022 đến nay đã vượt kế hoạch 22% và tương đương với cùng kỳ năm 2021, mặc dù các mỏ đang trên đà suy giảm. Đó là nhờ các giải pháp quản trị kết hợp với khoa học công nghệ mà Petrovietnam đang áp dụng để cố gắng giữ mức sản lượng ổn định trong 3 năm trở lại đây. Công suất lọc dầu cũng vượt 8%; sản xuất phân bón vượt khoảng 9%; khí, điện cung cấp tối đa theo nhu cầu thị trường. Hiệu quả tài chính thông qua việc mở rộng thị trường tiêu thụ kết hợp kinh doanh quốc tế, khiến doanh thu và các chỉ tiêu tài chính trong 7 tháng năm 2022 tiếp tục tăng trưởng rất cao so với cùng kỳ năm 2021.
Có thể khẳng định, kết quả có được chính là dựa trên nền tảng quản trị và thành quả mà Petrovietnam đã gặt hái từ những năm 2020, 2021. Trong đó, quản trị biến động đóng vai trò quyết định.
Đầu năm 2022, chúng ta đã kịp thời dự báo được các hệ lụy từ cuộc chiến Nga – Ukraine, các xung đột tác động đến kinh tế vĩ mô sẽ khiến giá dầu thô tăng mạnh. Thị trường biến động sẽ dẫn đến khan hiếm nguồn cung xăng dầu trong nước, đứt gãy các chuỗi cung ứng. Nhờ quản trị biến động, Petrovietnam có thể tận dụng cơ hội đẩy mạnh sản lượng lọc dầu, tận dụng được thời kỳ biên lợi nhuận của ngành lọc dầu rất cao. Ngành phân bón cũng có hiệu quả tốt do giá thị trường thuận lợi và sản xuất an toàn, ổn định. Đó là thành quả đến từ quản trị biến động, dự báo, xây dựng kịch bản, quyết liệt hành động mang tính hệ thống trong cả khối sản xuất và khối thương mại.
PV: Thời gian qua Petrovietnam rất quyết liệt trong chuyển đổi số (CĐS). Tổng giám đốc có thể cho biết, lộ trình CĐS của Petrovietnam cho đến thời điểm này đã đạt được những kết quả nổi bật nào?
Tổng giám đốc Lê Mạnh Hùng: Trong bối cảnh cuộc CMCN 4.0 đang diễn ra mạnh mẽ, CĐS có ý nghĩa chiến lược đối với bất kỳ doanh nghiệp nào để nâng cao hiệu quả hoạt động, sức cạnh tranh. Có thể khẳng định, hoặc là CĐS, hoặc là không tồn tại. Đó là xu hướng tất yếu của mọi doanh nghiệp chứ không chỉ riêng với Petrovietnam.
Ngay từ năm 2019, Petrovietnam đã thành lập Ban chỉ đạo về CĐS, sau đó là lựa chọn và thuê các đơn vị tư vấn để xây dựng tầm nhìn và chiến lược CĐS trong toàn Petrovietnam.
Sau khi đơn vị tư vấn đi khảo sát, đánh giá, kết quả cho thấy nhận thức về CĐS ở các đơn vị rất khác nhau và vẫn ở mức độ trưởng thành số khá thấp. Vì vậy, việc đầu tiên là phải tìm mọi cách để làm sao từ lãnh đạo Petrovietnam đến lãnh đạo các đơn vị thành viên đều phải hiểu rõ, nhận thức rõ vai trò, bản chất của CĐS. Để thực hiện thành công CĐS, Petrovietnam đã xây dựng văn hóa về sự chia sẻ, phối hợp, kết hợp với quá trình đào tạo và nỗ lực học tập không ngừng. Nghe có vẻ rất không liên quan, nhưng về bản chất, CĐS chính là quá trình chuyển từ “sâu” thành “bướm”, dẫn đến thay đổi tư duy và mô hình kinh doanh; chuyển từ cách làm hiện tại sang một cách làm mới, nâng cao năng lực cạnh tranh và đem đến hiệu quả cao hơn. Các công nghệ số như trí tuệ nhân tạo (AI), điện toán đám mây (Cloud Computing), Internet kết nối vạn vật (IoT), dữ liệu lớn (Big Data) là những công cụ ứng dụng trong quá trình CĐS. Qua quá trình này, Petrovietnam đã phổ quát được nhận thức về CĐS và vai trò của CĐS trong toàn hệ thống, biến nó thành một phần của văn hóa dầu khí.

Tổng giám đốc Petrovietnam Lê Mạnh Hùng kiểm tra hoạt động trên giàn điều khiển Trung tâm mỏ Sao Vàng
Petrovietnam đã hoàn thành xây dựng và chính thức có được chiến lược về CĐS, có lộ trình tổng thể dài hạn về CĐS và tầm nhìn số, từ đó thúc đẩy thay đổi mô hình kinh doanh và nâng cao hiệu quả SXKD. Về mặt tổ chức, Petrovietnam đã xây dựng, hình thành những cơ quan, bộ phận thường trực, bộ máy CĐS ở Petrovietnam và các đơn vị thành viên; đã số hóa được toàn bộ hệ thống quy trình và cơ sở dữ liệu; ứng dụng AI vào tối ưu hệ thống quản trị, phân tích dữ liệu, ví dụ như phân tích dữ liệu địa chất, thạch học, từ đó đưa vào khoan thăm dò, khoan tận thăm dò, tận khai thác… cũng như quá trình lập kế hoạch, quản lý vận hành và bảo dưỡng các nhà máy công nghiệp.
CĐS có các bước số hóa quy trình và dữ liệu, tối ưu hóa quy trình và dữ liệu, sau đó là dùng các công cụ (Cloud Computing, AI, IoT, Big Data…) để ứng dụng vào quá trình này… Hiện nay, Petrovietnam đang ở bước 2 và một số công việc đang ở giai đoạn đầu của bước thứ 3, là ứng dụng các công nghệ vào quản trị, điều hành SXKD ở các đơn vị, kể cả trong dự báo và quản trị biến động, đưa ra các định hướng, các khuyến cáo. Đó là những thành quả lớn trong CĐS của Petrovietnam tính đến thời điểm hiện tại.
PV: Tổng giám đốc có thể chia sẻ thêm về định hướng, mục tiêu của Petrovietnam trong những tháng cuối năm 2022? Sang năm 2023, phương châm hành động của Petrovietnam là gì?
Tổng giám đốc Lê Mạnh Hùng: Petrovietnam sau 7 tháng năm 2022 đã đạt được những thành quả rất tích cực. Vì vậy, nhiệm vụ trọng tâm trong những tháng cuối năm của Petrovietnam là phải giữ vững được thành quả đó. Điều này cũng không đơn giản bởi dự báo trong những tháng cuối năm 2022 sẽ có nhiều bất lợi, như giá dầu giảm, nhu cầu thị trường thấp, suy thoái kinh tế toàn cầu… Đặc biệt, tại các nền kinh tế lớn như Mỹ, Trung Quốc, EU… lãi suất, lạm phát tăng mạnh; cuộc chiến Nga – Ukraine chưa kết thúc; khí hậu khô hạn nhiều nơi; đại dịch Covid-19… sẽ dẫn đến xu hướng thu hẹp sản xuất trên thế giới, xuất khẩu suy giảm, giảm nhu cầu tiêu thụ điện, khí… Đó là những rủi ro mà Petrovietnam phải quản trị được, thông qua dự báo, quản trị biến động, xây dựng kế hoạch dự phòng, tận dụng cơ hội để hoàn thành cao nhất kế hoạch SXKD năm 2022 và có tính dự phòng trong năm 2023.
Thứ hai là, cần tiếp tục quản trị tốt hệ thống sản xuất; quản trị tốt về tài chính, không chủ quan.
Thứ ba là, triển khai mạnh mẽ các dự án đầu tư lớn, trọng điểm, đầu tư nội bộ để tận dụng cơ hội đầu tư.
Thứ tư là, phải xử lý rốt ráo, quyết liệt các dự án trọng điểm. Chẳng hạn, Dự án NMNĐ Thái Bình 2 phải đi vào vận hành thương mại trong năm nay, có phương án cho Dự án NMNĐ Long Phú 1, Dự án nâng cấp và mở rộng NMLD Dung Quất, chủ trương Dự án Tổ hợp lọc hóa dầu và Dự trữ năng lượng Long Sơn… Đặc biệt, Dự án khí điện Lô B phải có phương án triển khai đáp ứng thời điểm first gas tối ưu nhất.
Thứ năm là, phải xử lý triệt để các dự án khó khăn, tìm phương án thoát lỗ cho các công ty đang gặp khó.
Bước sang năm 2023, phương châm hành động của Petrovietnam cần dựa trên nền tảng của phát triển những năm qua, đặc biệt là trong năm 2022, tiếp tục củng cố và đổi mới công tác quản trị mà quản trị biến động là trọng tâm; tiếp đến là quản trị dựa trên nền tảng số đã hình thành trong những năm qua; tiếp tục thúc đẩy kết nối các nguồn lực để đầu tư mạnh mẽ các dự án lớn; mở rộng hợp tác đầu tư phát triển và kinh doanh quốc tế dựa trên lợi thế về quan hệ của Việt Nam với các nước và thị trường, tập trung tại Đông Nam Á, Nga và Trung Đông, Bắc Mỹ…
Tôi cho rằng, trong năm 2023, Petrovietnam cần phải nỗ lực quản trị theo hướng “tương lai sẽ là lực kéo, hiện tại và quá khứ chính là lực đẩy” để tiếp tục phát triển bền vững và vươn ra biển lớn.
PV: Trân trọng cảm ơn Tổng giám đốc!
Ngày 16/5/2022, đồng chí Hoàng Quốc Vượng – Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng Thành viên Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam đã gửi thư chúc mừng đến các nhà khoa học, đội ngũ cán bộ quản lý và nghiên cứu, phát triển Khoa học Công nghệ (KHCN) và Đổi mới sáng tạo (ĐMST) trong toàn Tập đoàn nhân kỷ niệm Ngày Khoa học và Công nghệ Việt Nam (18/5/2022). Dưới đây là toàn văn Thư chúc mừng:
Tập đoàn Thân mến gửi đội ngũ cán bộ nghiên cứu, quản lý Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo của Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam!
Nhân kỷ niệm Ngày Khoa học và Công nghệ Việt Nam (18/5/2022), thay mặt Lãnh đạo Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, tôi xin gửi tới các nhà khoa học, đội ngũ cán bộ quản lý và nghiên cứu, phát triển Khoa học Công nghệ (KHCN) và Đổi mới sáng tạo (ĐMST) trong toàn Tập đoàn lời chúc mừng nồng nhiệt và những tình cảm tốt đẹp nhất.
Năm 2022, sau thời gian dài phòng chống dịch bệnh Covid-19, bối cảnh thế giới đã có nhiều thay đổi và tác động không nhỏ đến kinh tế nước ta và hoạt động của Tập đoàn. Trong đó phải kể đến các ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, chuyển dịch năng lượng, phát triển kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh và cách mạng 4.0 với xu hướng chuyển đổi số. Mô hình tăng trưởng dựa trên tài nguyên và lao động giá rẻ không còn phù hợp. Đã đến lúc chúng ta phải đổi mới mô hình tăng trưởng dựa trên sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, tiến bộ KHCN và ĐMST.
Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam với vai trò là Tập đoàn kinh tế hàng đầu của đất nước, trong thời gian qua đã có nhiều đóng góp quan trọng cho sự phát triển của kinh tế đất nước, đồng thời cũng đang đối diện với nhiều khó khăn, thách thức. Để giúp Tập đoàn tiếp tục phát triển bền vững, khẳng định thương hiệu, KHCN và ĐMST đang là một trong những trọng tâm ưu tiên trong chính sách phát triển, quản trị, điều hành nhằm nâng cao năng suất lao động và hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Tôi mong muốn và tin tưởng rằng đội ngũ các nhà khoa học, quản lý KHCN&ĐMST của Tập đoàn trong thời gian tới tập trung nguồn lực nhiều hơn cho phổ biến, áp dụng, chuyển giao công nghệ, tri thức tiên tiến của thế giới, từ đó sử dụng có hiệu quả nguồn lực từ Quỹ phát triển KHCN để đưa KHCN&ĐMST thực sự là đòn bẩy, là động lực mới, quan trọng cho tăng trưởng và phát triển của Tập đoàn.
Một lần nữa, thân ái gửi đến toàn thể cán bộ quản lý và nghiên cứu, phát triển Khoa học Công nghệ và Đổi mới sáng tạo trong toàn Tập đoàn lời chúc mừng nhân dịp kỷ niệm Ngày Khoa học và Công nghệ Việt Nam. Chúc các đồng chí sức khỏe, hạnh phúc và thành công!
Chào thân ái!
Hoàng Quốc Vượng
Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng Thành viên
Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam