Viện Dầu khí Việt Nam (VPI) cho biết đã triển khai nghiên cứu công nghệ chế tạo hệ hóa phẩm khử nhũ (demulsifier) nhằm nâng cao hiệu quả tách nước khỏi dầu thô trong quá trình khai thác và vận chuyển dầu tại bể Cửu Long. Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm chế tạo hệ hóa phẩm khử nhũ phù hợp với đặc điểm dầu thô Việt Nam và áp dụng thử nghiệm tại mỏ khai thác dầu, từ đó tiến tới thương mại hóa sản phẩm, thay thế sản phẩm nhập khẩu.

TS. Hoàng Linh Lan – Ban Khoa học Chiến lược VPI cho biết, hóa phẩm khử nhũ VPI-Demul do VPI sản xuất đã được kiểm tra chất lượng sản phẩm tại phòng thí nghiệm của Liên doanh Việt – Nga “Vietsovpetro”. Kết quả cho thấy sản phẩm VPI-Demul đạt yêu cầu chất lượng. Trên cơ sở đó, Vietsovpetro đã chấp thuận triển khai thử nghiệm công nghiệp VPI-Demul tại giàn khai thác mỏ Bạch Hổ, bể Cửu Long.

Việc hình thành nhũ tương trong quá trình khai thác (thường là nhũ tương nước trong dầu thô) sẽ khiến dòng chất lưu bị tăng độ nhớt, tăng nguy cơ gây ăn mòn đường ống, thiết bị, gây cản trở dòng chảy dẫn đến sản lượng bị suy giảm…

Hóa phẩm khử nhũ VPI-Demul được sử dụng để khử nhũ tương nước trong dầu thô nhằm đảm bảo chất lượng dầu thô trong vận chuyển và xuất bán thương mại, đồng thời giúp giảm nguy cơ ăn mòn thiết bị và gia tăng sản lượng khai thác dầu.

Viện Dầu khí Việt Nam (VPI) cho biết đang triển khai nghiên cứu xây dựng các mô hình giúp tối ưu trong giao thông vận tải, ví dụ như việc tối ưu hóa định tuyến xe được tích hợp với thông tin giao thông thời gian thực nhằm giảm thiểu chi phí giao hàng.

Theo ông Lê Ngọc Anh – Giám đốc dữ liệu của VPI, dự kiến cuối năm nay VPI sẽ hoàn thành các thuật toán cơ bản với các module về giao thông và tối ưu hóa. Mô hình này nếu thành công sẽ áp dụng cho các bài toán khác nhau trong ngành năng lượng, cả cung và cầu.

Viện Dầu khí Việt Nam (VPI) cho biết đã nghiên cứu xây dựng hệ sinh thái Oilgas AI sử dụng trí tuệ nhân tạo (Artificial Intelligence – AI) và các thuật toán học máy (Machine Learning – ML) để tổng hợp, biểu diễn và phân tích dữ liệu chuyên sâu trong lĩnh vực dầu khí, với các sản phẩm như dầu thô, xăng dầu, LPG, và khí tự nhiên.

VPI hiện là đối tác của Microsoft và đang triển khai các giải pháp để tối ưu phân tích, sử dụng, quản lý dữ liệu giúp doanh nghiệp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Trong đó, hệ sinh thái Oilgas AI được xây dựng trên nền tảng Power Pages của Microsoft, được tích hợp các công cụ xử lý, phân tích, kết nối, quản lý dữ liệu mới nhất hiện nay như: Power Apps (phát triển ứng dụng), Power Automate (tự động hóa tác vụ), Power BI (trực quan hóa dữ liệu tương tác) và Power Virtual Agents (trợ lý ảo thông minh).

Hệ sinh thái Oilgas AI sử dụng trí tuệ nhân tạo và các thuật toán học máy

Hệ sinh thái Oilgas AI sử dụng trí tuệ nhân tạo và các thuật toán học máy

Đối với từng loại sản phẩm, Oilgas AI biểu diễn phân tích thông tin dữ liệu về thị trường, dự báo giá, cung – cầu, cơ sở hạ tầng, tồn kho… giúp người dùng dễ dàng tìm kiếm, khai thác, tương tác với dữ liệu trực quan, sinh động thông qua các biểu đồ, báo cáo, dashboard… Các dữ liệu sẽ liên tục được cập nhật, giúp người dùng có thể theo dõi số liệu trong thời gian thực.

Thông tin giá dầu thô được biểu diễn phân tích trên hệ sinh thái Oilgas AI

Thông tin giá dầu thô được biểu diễn phân tích trên hệ sinh thái Oilgas AI

Đặc biệt, các doanh nghiệp cung ứng, nhập khẩu, tiêu thụ xăng dầu có thể theo dõi  dự báo giá bán lẻ xăng dầu của VPI thông qua sản phẩm xăng dầu tại hệ sinh thái Oilgas AI. Mô hình dự báo giá xăng dầu của VPI sử dụng các giải thuật học máy để mô hình hóa nguồn dữ liệu đầu vào và liên tục cập nhật các yếu tố mới để đưa ra dự báo chính xác nhất về mức trích lập và chi sử dụng Quỹ bình ổn giá xăng dầu, cũng như giá cơ sở các sản phẩm xăng dầu trong nước và nhập khẩu.

Mô hình dự báo giá xăng dầu của VPI sử dụng các giải thuật học máy

Mô hình dự báo giá xăng dầu của VPI sử dụng các giải thuật học máy

Biểu diễn và dự báo giá bán lẻ xăng E5RON92

Biểu diễn và dự báo giá bán lẻ xăng E5RON92

Ông Lê Ngọc Anh – Giám đốc Phân tích dữ liệu của VPI cho biết, Oilgas AI hướng tới trở thành mạng lưới liên kết các chuyên gia, nhà khoa học, các tổ chức, doanh nghiệp, khách hàng ở trong và ngoài nước ứng dụng các tiến bộ mới nhất hiện nay như nền tảng điện toán đám mây, trí tuệ nhân tạo (AI) và các thuật toán học máy (ML)… Hệ sinh thái này tạo ra lợi thế cạnh tranh thông qua việc tối ưu hóa phân tích, khai thác, sử dụng dữ liệu, một cách an toàn – thuận tiện, cũng như ứng dụng, sử dụng các mô hình, thuật toán đã được phát triển bởi các chuyên gia VPI và các chuyên gia hàng đầu khác trong ngành Dầu khí đang hợp tác với VPI. Các sản phẩm, dịch vụ về thị trường năng lượng sẽ cung cấp các giải pháp giúp doanh nghiệp đưa ra quyết định nhanh và hiệu quả hơn trong hoạt động sản xuất kinh doanh hàng ngày cũng như xây dựng kế hoạch, hoạch định chiến lược dài hạn.

VPI đã bắt đầu cung cấp dịch vụ miễn phí khai thác dữ liệu để người dùng trải nghiệm phiên bản dùng thử của hệ sinh thái Oilgas AI tại địa chỉ https://oilgasai.powerappsportals.com/. Sau giai đoạn thử nghiệm, VPI sẽ cung cấp các gói dịch vụ tùy chọn, đáp ứng đa dạng nhu cầu khai thác thông tin dữ liệu của khách hàng.

Ghi chú: Để chia sẻ dữ liệu, quảng bá các sản phẩm và nghiên cứu lên hệ sinh thái Oilgas AI, xin vui lòng liên hệ: Mr. Lê Ngọc Anh/Email: anhln@vpi.pvn.vn.

 

Viện Dầu khí Việt Nam (VPI) cho biết đã thiết kế và chế tạo thành công sản phẩm theo dõi ăn mòn thực tế cho đường ống tại hiện trường (Corrosion coupon, Holder, O-ring…).

Sản phẩm của VPI giúp theo dõi ăn mòn thực tế cho đường ống tại hiện trường

Sản phẩm theo dõi ăn mòn thực tế được sử dụng cho các đường ống công nghệ trong nhà máy, ngoài giàn khai thác hay tàu dầu với kích thước gần như không hạn chế.

Viện Dầu khí Việt Nam (VPI) đã thực hiện nhiệm vụ “Xác định các sản phẩm hóa dầu tiềm năng có thể phát triển từ dầu để nâng cao hiệu quả hoạt động của các nhà máy lọc dầu có phần góp vốn của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam” nhằm xác định các sản phẩm hóa dầu tiềm năng có thể phát triển từ dầu tại các nhà máy lọc dầu có phần vốn góp của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam.

Một số phương án/sản phẩm hóa dầu tiềm năng giai đoạn ngắn/trung hạn. Ảnh: VPI

Trong đó, VPI xác định các sản phẩm hóa dầu tiềm năng có thể xem xét khả năng sản xuất từ các nhà máy lọc/hóa dầu trong trung hạn (5 – 10 năm); các sản phẩm hóa dầu tiềm năng phục vụ cho ngành sản xuất ô tô, pin và sản phẩm hóa chất khác có xu hướng phát triển và thị trường ở tương lai gần và sản xuất từ sản phẩm/sản phẩm trung gian từ nhà máy lọc dầu khi đáp ứng các điều kiện trong tương lai (10 – 20 năm).
Dựa trên các dữ liệu đầu vào gồm: (i) Thị trường nguyên liệu và sản phẩm; (ii) Dữ liệu về giá nguyên liệu và sản phẩm (dữ liệu quá khứ và dự báo từ đơn vị tư vấn Nexant) và bộ giá phụ trợ, tiện ích từ nhà máy lọc dầu; (iii) Phương án kỹ thuật công nghệ tham khảo thông tin từ nhà bản quyền, IHS Markit PEP Yearbook 2021 và (iv) Kinh nghiệm phát triển hóa dầu từ dầu, nhóm tác giả đã phân tích, đánh giá và đề xuất sản phẩm tiềm năng và phương án sản xuất trong giai đoạn ngắn/trung hạn và trung/dài hạn (khi khả thi về nguồn nguyên liệu).
Đối với Nhà máy Lọc dầu Dung Quất, có thể xem xét việc gia tăng sản lượng propylene từ việc cải hoán Phân xưởng RFCC hoặc đầu tư cụm phân xưởng cracking olefins (OCU) trong trung hạn. Ở giai đoạn dài hạn, phát triển sản phẩm hóa dầu gồm vật liệu nhựa và cao su đặc biệt thông qua việc đầu tư thêm Phân xưởng steam cracking và Phân xưởng sản xuất hóa dầu từ olefins, kết hợp với aromatics.
Đối với Liên hợp Lọc hóa dầu Nghi Sơn, việc phát triển sản phẩm nhựa PET (chai nhựa) từ nguồn para-xylene để kéo dài chuỗi sản phẩm hóa dầu là hướng cần xem xét triển khai bước tiếp theo để đánh giá chi tiết và áp dụng.
Một số hướng phát triển dài hạn để thích ứng với xu hướng chuyển dịch năng lượng và Net-zero cũng được nhóm tác giả đề xuất, tuy nhiên việc áp dụng các giải pháp công nghệ chưa mang lại hiệu quả kinh tế ở thời điểm hiện tại. Do đó, VPI cho rằng cần tiếp tục theo dõi, cập nhật sự phát triển công nghệ và chính sách (đặc biệt là giảm chi phí đầu tư, giảm giá thành sản xuất, các chính sách khuyến khích phát triển sử dụng nguyên liệu sạch, năng lượng tái tạo) và thị trường mục tiêu để đánh giá chi tiết và giải pháp cho từng giai đoạn. Việc phát triển công nghệ mới để phát triển vật liệu nhựa và cao su đặc biệt/chuyên dụng, để áp dụng cho các ngành (ô tô, y tế và dược phẩm) cũng được nhóm tác giả đề xuất và có xem xét việc sử dụng nguồn tái tạo, nguyên liệu sinh học và nhựa tái chế để thích ứng với xu hướng chuyển dịch năng lượng.

Viện Dầu khí Việt Nam (VPI) đã phát triển thành công hệ hóa chất chống tạo bọt (antifoam) sử dụng trong hệ thống xử lý nước bơm ép vỉa tại các công trình khai thác dầu khí ngoài khơi. Sản phẩm được ký hiệu VPI-AF-001 được nhóm tác giả Trung tâm Phân tích Thí nghiệm (VPI-Labs) phát triển dựa trên nền tảng hóa phẩm polysiloxane cùng một số thành phần hỗ trợ hoạt tính bổ sung cũng như để phù hợp với yêu cầu của các đơn vị khai thác dầu khí.

Antifoam được sử dụng để giảm khả năng tạo bọt của nước bơm ép trong quá trình khử khí

Sản phẩm VPI-AF-001 do VPI sản xuất có các ưu điểm: Sản phẩm ở dạng nhũ tương lỏng, dễ tan trong nước biển, nước kỹ thuật; độ nhớt sản phẩm tại nhiệt độ dao động trong khoảng 100 – 300 cSt, dễ sử dụng các loại bơm hóa chất tại các công trình dầu khí; sản phẩm có khả năng bốc cháy tối thiểu, nhiệt độ chớp cháy lớn hơn 100oC, rất an toàn trong quá trình bảo quản và vận chuyển; độ pH gần trung tính, thân thiện với môi trường; nhiệt độ đông đặc thấp hơn 0 độ C, dễ dàng bảo quản sử dụng.
Trên nền tảng hóa phẩm polysiloxane, để phát triển hệ hóa chất chống tạo bọt (antifoam) phù hợp với hệ thống xử lý nước bơm ép tại các công trình dầu khí biển tại mỏ Bạch Hổ thuộc Liên doanh Việt – Nga “Vietsovpetro”, VPI đã thử nghiệm, tối ưu công thức hệ hóa chất chống tạo bọt để đạt yêu cầu kỹ thuật của Vietsovpetro.
Cụ thể, các hệ hóa chất sau khi được phối trộn, được phân tích các chỉ tiêu tính chất vật lý nhằm đáp ứng các yêu cầu chung về hóa phẩm sử dụng trong hệ thống xử lý nước bơm ép của Vietsovpetro, đồng thời được thử nghiệm đánh giá hiệu quả theo quy trình NIPI I-NM-02 (Part A) của Viện Nghiên cứu Khoa học và Thiết kế Dầu khí biển (NIPI) dùng để đánh giá hiệu quả của hóa chất chống tạo bọt trong phòng thí nghiệm (Hình 2).
Kết quả đánh giá hiệu quả chống tạo bọt của hệ hóa chất VPI-AF-001, so sánh với kết quả đánh giá hiệu quả chống tạo bọt của hóa chất nhập ngoại cho thấy sản phẩm có khả năng giảm thể tích bọt, thời gian tách bọt và hiệu quả làm giảm độ bền bọt tốt hơn so với hóa chất nhập khẩu.
Trên cơ sở đó, VPI và Vietsovpetro đã ký hợp đồng cung cấp thử nghiệm sản phẩm VPI-AF-001 ở quy mô công nghiệp tại các công trình dầu khí biển của Vietsovpetro. Dự kiến việc thử nghiệm công nghiệp sẽ được thực hiện trong Quý IV/2022.

Viện Dầu khí Việt Nam (VPI) đã thực hiện nghiên cứu phối trộn graphene với epoxy nhằm tạo lớp phủ composite epoxy/graphene trên bề mặt kim loại nhằm cải thiện các đặc tính cơ lý và khả năng chống ăn mòn so với lớp phủ epoxy truyền thống.
Hình thái học bề mặt lớp phủ composite epoxy/graphene.

Nghiên cứu này đã xác định graphene biến tính hữu cơ, tương thích và phân tán tốt trong dung môi cho phép tạo lớp phủ composite đồng nhất với độ bền va đập, độ bám dính cao nhất, có khả năng làm tăng độ bám dính của lớp phủ nên ngăn cản quá trình bong tróc lớp phủ, hạn chế quá trình ăn mòn sâu và rộng tại các vị trí hư hỏng, khuyết tật trên bề mặt kim loại, vì vậy cải thiện được khả năng chống ăn mòn so với lớp phủ không có graphene.

Graphene là vật liệu 2 chiều mỏng nhất, sức căng bề mặt và bề mặt riêng lớn, độ dẫn điện và độ bền cao. Với cấu trúc 2 chiều siêu mỏng, việc phân tán graphene trong lớp phủ đồng nhất và có định hướng song song với bề mặt kim loại cho phép hình thành rào cản và cải thiện khả năng che chắn của lớp phủ. Sự biến tính graphene bằng các nhóm chức năng giúp cải thiện độ bền liên kết giữa lớp phủ và kim loại, tăng khả năng bám dính cũng như khả năng tự sửa chữa của lớp phủ. Độ dẫn điện cao của graphene giúp tăng hiệu quả bảo vệ cathode đối với các lớp phủ giàu kẽm.

Ngày 9/3/2022, Viện Dầu khí Việt Nam (VPI) có Thông báo số 1268/TB-VDKVN về Kế hoạch tổ chức bán thanh lý tài sản (TS), công cụ dụng cụ (CCDC) và trang thiết bị (TTB) văn phòng của Viện tại Hà Nội.

Thông báo bán thanh lý (đấu giá): Xem đầy đủ tại đây.

Chi tiết liên hệ nộp hồ sơ đăng ký:

Thời gian thực hiện thủ tục đăng ký: trong giờ hành chính, từ 9h00 ngày 11/3/2022 đến 17h00 ngày 16/3/2022.

Địa chỉ: Văn phòng Viện Dầu khí Việt Nam – số 167 phố Trung Kính, phường Yên Hòa, quận Cầu Giấy, TP. Hà Nội.

(more…)

Viện Dầu khí Việt Nam (VPI) đã nghiên cứu và ứng dụng vật liệu nanocarbon trong sản xuất phân bón, với kỹ thuật bọc lớp màng nanocarbon lên urea, DAP, kali và phân hỗn hợp NPK, giúp nâng cao hiệu quả sử dụng phân bón, tăng năng suất cây trồng khoảng 7%/ha so với sử dụng phân bón thông thường.

Vật liệu nanocarbon (carbon nanotubes và graphene) đang được xem là vật liệu tiên phong trong nhiều lĩnh vực với kỳ vọng có thể nâng cao hiệu quả sử dụng phân bón, giảm thất thoát chất dinh dưỡng và giảm thiểu tác động đến môi trường.

Đối với sản phẩm phân bón, nitơ được xem là nguồn dinh dưỡng chính cho sự sinh trưởng của thực vật, bên cạnh tác dụng của lân và kali đối với rễ, hoa và việc tổng hợp đường bột, cellulose giúp cây khỏe mạnh và trái lớn nhanh.

Tuy nhiên, nitơ hòa tan rất nhanh trong nước, bay hơi do sự hình thành các hợp chất nitơ dạng khí (NH3, NOx), hấp phụ hoặc hấp thụ bền do nitơ tương tác với các chất hữu cơ, khoáng chất trong đất và phân rã nitơ do vi sinh vật. Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã được thực hiện nhằm tăng khả năng hấp thụ nitơ cho cây trồng hiệu quả mang lại còn hạn chế.

Sự phát triển của công nghệ nano hiện nay, đặc biệt là nanocarbon, đã cung cấp giải pháp để làm chậm quá trình giải phóng nitơ từ phân bón. Cụ thể, nanocarbon được sử dụng như vi chất dinh dưỡng cho cây trồng, đồng thời tác động đến quá các quá trình hấp thu các chất dinh dưỡng khác, quá trình nảy mầm và tăng trưởng của thực vật.

Đạm (urea) Phú Mỹ và Cà Mau trước và sau khi được bọc lớp màng nanocarbon

Đạm (urea) Phú Mỹ và Cà Mau trước và sau khi được bọc lớp màng nanocarbon

Viện Dầu khí Việt Nam (VPI) đã nghiên cứu và ứng dụng vật liệu nanocarbon trong sản xuất phân bón, với kỹ thuật bọc lớp màng nanocarbon lên urea, DAP, kali và phân hỗn hợp NPK. Sau khi được bọc lớp màng nanocarbon khoảng 1- 2 µm, sản phẩm phân bón của VPI tăng khoảng 0,1 – 0,2 % khối lượng, giữ nguyên hàm lượng dinh dưỡng (%N trong urea, % P trong DAP, %K trong KCl) của phân bón ban đầu.

Ảnh SEM lớp màng nanocarbon bọc lên urea

Ảnh SEM lớp màng nanocarbon bọc lên urea

Theo TS. Huỳnh Minh Thuận – Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Chế biến Dầu khí, VPI: “Kết quả thử nghiệm thực tế trên cây cải xanh tại Lâm Đồng cho thấy urea được bọc lớp màng nanocarbon giúp thời gian phân giải dinh dưỡng trong môi trường nước chậm hơn đáng kể, tăng năng suất cây trồng khoảng 7%/ha so với sử dụng phân bón thông thường”. Ngoài ra, sự kết hợp cả 3 loại phân bón (urea, DAP, KCl) theo công nghệ này cũng làm gia tăng đáng kể năng suất cây trồng trong cùng điều kiện so sánh, là tiền đề để VPI đẩy mạnh áp dụng nanocarbon vào lĩnh vực phân bón trong thời gian tới.

Viện Dầu khí Việt Nam (VPI) cho biết đã phát triển module tomography theo thời gian truyền (travel-time reflection tomography – SeisT) để nghiên cứu độ chính xác của kỹ thuật và nâng cao năng lực công nghệ trong xử lý địa chấn. Hiệu quả và độ chính xác của module trong quá trình xử lý và vận  hành được nhóm tác giả VPI kiểm tra đánh giá trên dữ liệu mô hình nhân tạo và dữ liệu thực địa (dữ liệu địa chấn 2D ngoài khơi Việt Nam).

Mô hình vận tốc Tomography chồng lên dữ liệu địa chấn. Ảnh: VPI

Nhóm nghiên cứu của VPI đã phát triển được phần mềm tomography cơ bản và chu trình tính toán kèm theo. Trong đó có thuật toán, module phần mềm và quy trình làm việc cần hiết để làm chủ các kỹ thuật cốt lõi (dò tia, tối ưu hóa, nghịch đảo) được sử dụng trong tomography.

Mô hình vận tốc xây dựng bằng  kỹ thuật tomography (mô hình vận tốc tomography) được sử dụng như mô hình ban đầu chất lượng cao cho các module dựng ảnh địa  chấn phức tạp hơn như dịch chuyển thời gian ngược (reverse-time migration) hoặc nghịch đảo toàn dạng sóng (full waveform inversion). Mô hình vận tốc là thông tin thiết yếu trong xử lý tín hiệu địa chấn, đóng vai trò quan trọng trong quá trình dịch chuyển địa chấn cũng  như chuyển đổi giữa miền thời gian và miền độ sâu.