Với Đề tài Nghị định thư “Nghiên cứu chế tạo xúc tác cracking công nghiệp trên cơ sở zeolite Y và zeolite ZSM-5 đa mao quản”, TS. Vũ Xuân Hoàn (Viện Dầu khí Việt Nam) và nhóm nghiên cứu đã bước đầu giải được bài toán giúp Nhà máy Lọc dầu Dung Quất vừa xử lý được nguyên liệu dầu thô đầu vào chất lượng thấp nhưng vẫn có sản phẩm đầu ra đạt chất lượng cao và gia tăng lợi nhuận.

Ảnh SEM của mẫu xúc tác cracking đa mao quản (DMQ-A) do VPI hợp tác nghiên cứu. Ảnh: VPI

Nhà máy Lọc dầu Dung Quất được xây dựng và đưa vào vận hành thương mại từ năm 2009, được thiết kế để sử dụng nguồn nguyên liệu đầu vào là dầu thô Bạch Hổ. Tuy nhiên, sản lượng khai thác của mỏ Bạch Hổ ngày càng sụt giảm khiến Nhà máy Lọc dầu Dung Quất phải phối trộn dầu thô Bạch Hổ với các loại dầu chất lượng kém hơn, dẫn đến nguyên liệu cặn nặng (residue) cho Phân xưởng cracking xúc tác tầng sôi (RFCC) có xu hướng ngày càng xấu (cặn nặng hơn, khó cracking hơn, hàm lượng tạp chất kim loại cao hơn), khiến chất xúc tác nhanh mất hoạt tính.
Do chất lượng nguyên liệu đầu vào giảm, Nhà máy Lọc dầu Dung Quất cần sử dụng khối lượng xúc tác tăng gấp 2 – 3 lần so với khi chế biến dầu thô Bạch Hổ. Hiện nay, lượng xúc tác FCC thải của nhà máy vào khoảng 18 – 20 tấn/ngày và biện pháp xử lý chủ yếu là chôn lấp, không chỉ ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế mà còn tiềm ẩn nguy cơ ảnh hưởng đến môi trường.
Thực tế này đặt ra nhiệm vụ cho Viện Dầu khí Việt Nam (VPI) là phát triển thế hệ xúc tác cracking mới dựa trên zeolite đa mao quản để chế biến hiệu quả nguồn nguyên liệu chất lượng xấu của Nhà máy Lọc dầu Dung Quất với mục tiêu tăng hiệu suất propylene (do biên lợi nhuận hóa dầu cao hơn so với lọc dầu) và tăng trị số octane của xăng.
Nhờ được tuyển chọn tham gia vào Chương trình quan hệ đối tác quốc tế về đổi mới bền vững (CLIENT II) với CHLB Đức và Đề tài Nghị định thư “Nghiên cứu chế tạo xúc tác cracking công nghiệp trên cơ sở zeolite Y và zeolite ZSM-5 đa mao quản” hợp tác giữa Đức và Việt Nam, nhóm nghiên cứu của TS. Vũ Xuân Hoàn đã có cơ hội hợp tác với Công ty CP Lọc hóa dầu Bình Sơn (BSR, đơn vị quản lý và vận hành Nhà máy Lọc dầu Dung Quất), Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Công nghệ Dresden (Technische Universität Dresden) và Công ty AIOTEC GmbH (Đức).
Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích các phương pháp chế tạo zeolite Y và zeolite ZSM-5 đa mao quản, phương pháp biến tính nâng cao độ bền thủy nhiệt, độ bền hoạt tính, công nghệ sấy phun để tạo hạt vi cầu cho xúc tác công nghiệp FCC, nhóm nghiên cứu của TS. Vũ Xuân Hoàn đã hợp tác với đối tác Đức xây dựng quy trình chế tạo xúc tác cracking công nghiệp từ zeolite Y và zeolite ZSM-5 đa mao quản quy mô phòng thí nghiệm. Trọng tâm nghiên cứu là xây dựng quy trình tổng hợp NaY từ nguồn hóa chất công nghiệp, quy biến tính zeolite Y và zeolite ZSM-5 thành zeolite Y và zeolite ZSM-5 đa mao quản, nâng cao độ bền thủy nhiệt và độ bền hoạt tính cho zeolite đa mao quản; xây dựng quy trình sấy phun để tạo hạt xúc tác cracking công nghiệp phù hợp cho thiết bị cracking tầng sôi và đánh giá hiệu quả của xúc tác chế tạo so với xúc tác thương mại.
Nhóm nghiên cứu xác định điểm mấu chốt của nghiên cứu là mở rộng mao quản của zeolite, thành phần quan trọng nhất của xúc tác FCC, chiếm khoảng từ 10 – 50% khối lượng xúc tác, quyết định khả năng cracking của xúc tác cũng như hiệu suất sản phẩm xăng và khí. Nhóm nghiên cứu tiến hành nghiên cứu tổng hợp zeolite tiêu chuẩn, sau đó áp dụng thêm quá trình biến tính để tách chọn lọc một phần silic và nhôm khỏi khung mạng nhằm tạo ra các kênh mao quản trung bình bên trong tinh thể zeolite, từ đó giúp cải thiện tốc độ khuếch tán cũng như tăng khả năng tiếp cận các tâm hoạt tính nằm sâu bên trong các vi mao quản.
Zeolite NaY có thể dễ dàng chế tạo từ muối nhôm, song do nguyên liệu này Việt Nam chưa có sản phẩm thương mại, nên nhóm nghiên cứu quyết định bắt đầu với hydroxide nhôm, loại nguyên liệu sẵn có trong nước nhưng thô hơn, khó chế tạo hơn và gần như rất ít nghiên cứu. Nhóm nghiên cứu của TS. Vũ Xuân Hoàn đã xây dựng thành công “Quy trình chế tạo zeolite NaY từ nguồn thủy tinh lỏng và hydroxide nhôm tại Việt Nam bằng phương pháp tạo mầm tinh thể”, có đơn đăng ký sáng chế được Cục Sở hữu Trí tuệ chấp nhận ở trong nước, đồng thời cũng đang trong quá trình đăng ký bảo hộ sáng chế ở CHLB Đức.
Sau khi đã chế tạo được zeolite Y và zeolite ZSM-5 đa mao quản, nhóm nghiên cứu đối mặt với thách thức là kích thước hạt xúc tác chưa đạt tối ưu (40 – 80 µm với tỷ lệ khoảng 60%). Với thiết bị sấy phun quy mô phòng thí nghiệm, bước tạo hạt xúc tác cracking này là thách thức đối với cả các nhà nghiên cứu Đức và Việt Nam. Xúc tác cracking công nghiệp đòi hỏi rất nhiều thông số về vật lý, hóa lý và yêu cầu rất cao về tính lưu biến. Nhóm nghiên cứu thậm chí đã mạo hiểm nâng tỷ lệ rắn trong nguyên liệu sấy phun lên khoảng 15 – 20% khối lượng – yếu tố có thể gây tắc vòi sấy phun, để có thể tăng kích thước hạt xúc tác lên tỷ lệ tối ưu.
Dưới điều kiện khắc nghiệt của quá trình tái sinh xúc tác trong Phân xưởng RFCC (khoảng 700 – 800 oC, có mặt hơi nước), cấu trúc zeolite dần bị phá hủy, làm mất hoạt tính. Để nâng cao độ bền thủy nhiệt và hoạt tính, nhóm nghiên cứu đã thêm bước bền hóa (trao đổi với ion đất hiếm để nâng cao độ bền cho zeolite đa mao quản, biến tính với P để nâng cao độ bền cho ZSM-5 đa mao quản) để hạn chế sự phá vỡ cấu trúc zeolite khi hoạt động trong điều kiện khắc nghiệt.
So sánh với các mẫu xúc tác đối chứng trên thị trường, sau khi giảm hoạt tính, xúc tác đa mao quản của nhóm nghiên cứu có diện tích bề mặt mesopore lớn hơn (125 m2/g), có nghĩa là xúc tác có khả năng cracking phân đoạn cặn nặng tốt hơn, độ chuyển hóa cao hơn so với xúc tác hiện tại mà Nhà máy Lọc dầu Dung Quất đang sử dụng và có hiệu quả tương đương với xúc tác đa mao quản mới của Rive/Grace Davison. Đặc biệt, do bổ sung zeolite ZSM-5 với tỷ lệ hợp lý, xúc tác của nhóm nghiên cứu có hiệu suất propylene tăng rất mạnh (trên 13% khối lượng), đồng thời trị số octane của xăng cũng tăng thêm khoảng 5 đơn vị so với các dòng xúc tác đang dùng tại Nhà máy Lọc dầu Dung Quất hiện nay.
Kết quả đánh giá xúc tác trên phần mềm FCC-SIM mô phỏng điều kiện hoạt động của Phân xưởng RFCC của Nhà máy Lọc dầu Dung Quất cho thấy, xúc tác đa mao quản là sự lựa chọn phù hợp khi cần mở rộng giới hạn của nguyên liệu chế biến. Hệ xúc tác này cho hoạt tính cao, ổn định, đồng thời việc sử dụng xúc tác đa mao quản không phải điều chỉnh lớn các thông số vận hành của Nhà máy Lọc dầu Dung Quất.
Kết quả này cho thấy tiềm năng ứng dụng cao của xúc tác cracking đa mao quản, mở ra các hướng nghiên cứu mới về xúc tác FCC, nhất là trong bối cảnh Việt Nam vẫn đang phải nhập khẩu hoàn toàn xúc tác cracking công nghiệp. Tuy nhiên, TS. Vũ Xuân Hoàn lưu ý, các bí quyết về công nghệ tạo hạt xúc tác, hợp phần pha nền, chất kết dính,… cực kỳ quan trọng nhưng hiện nay Việt Nam chưa làm được. Để có thể từng bước làm chủ công nghệ và đánh giá đầy đủ khả năng ứng dụng cho Nhà máy Lọc dầu Dung Quất, cần thiết phải đầu tư nghiên cứu ở quy mô lớn hơn với máy sấy phun công nghiệp để hoàn thiện xúc tác trước khi ứng dụng thử nghiệm thực tế.

Nhân kỷ niệm Ngày Khoa học và Công nghệ Việt Nam lần thứ 8 (18/5/2014 – 18/5/2021), đồng chí Hoàng Quốc Vượng – Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐTV Tập đoàn Dầu khí Việt Nam đã gửi Thư chúc mừng tới các tập thể, cá nhân, các thế hệ cán bộ nghiên cứu và quản lý khoa học công nghệ.

Thư chúc mừng của Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐTV Tập đoàn Dầu khí Việt Nam nhân kỷ niệm Ngày Khoa học và Công nghệ Việt Nam lần thứ 8 (18/5/2014 – 18/5/2021)

Năm 2021, Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam tiếp tục phải đối mặt với nhiều khó khăn thách thức. Một mặt duy trì, tăng cường công tác phòng chống dịch bệnh Covid-19 vẫn diễn biến hết sức phức tạp trên phạm vi toàn thế giới và đang cao điểm bùng phát tại khu vực. Đồng thời phải nỗ lực tối đa đảm bảo ổn định sản xuất kinh doanh, duy trì tăng trưởng. Bằng việc triển khai quyết liệt, đồng bộ hệ thống giải pháp kỹ thuật, quản trị và quản lý từ Tập đoàn đến các đơn vị cơ sở, chúng ta đã từng bước vượt qua những khó khăn thách thức, hoàn thành xuất sắc các chỉ tiêu cơ bản trong Quý đầu của năm.

Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐTV Tập đoàn Dầu khí Việt Nam ghi nhận và đánh giá cao các hoạt động ứng dụng và đổi mới công nghệ đã được triển khai một cách kịp thời, phong trào phát huy sáng tạo và thúc đẩy sáng kiến được phát triển mạnh mẽ đã và đang góp phần quan trọng vào những kết quả đạt được trong sản xuất kinh doanh của Tập đoàn trong thời gian vừa qua. Năm 2021, Tập đoàn bắt đầu triển khai thực hiện kế hoạch nghiên cứu khoa học dài hạn giai đoạn 2021 – 2025 với những chương trình khoa học công nghệ trọng điểm, mang tính đột phá. Đây sẽ là cơ sở nền tảng để phát triển sản phẩm, dịch vụ chủ lực, mang thương hiệu dầu khí Việt Nam có sức cạnh trạnh trên thị trường trong nước và quốc tế.

Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐTV Tập đoàn Dầu khí Việt Nam yêu cầu các đơn vị cần tập trung nguồn lực thực hiện kế hoạch khoa học công nghệ có trọng tâm, trọng điểm; đồng thời mong muốn đội ngũ cán bộ nghiên cứu và quản lý khoa học công nghệ trong toàn Tập đoàn nỗ lực hơn nữa, không ngừng đổi mới sáng tạo, kịp thời nắm bắt, tích cực ứng dụng các thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 vào hoạt động sản xuất kinh doanh của Tập đoàn cũng như các đơn vị, phát huy cao hơn nữa vai trò khoa học công nghệ, tạo ra những giải pháp đột phá góp phần vào sự phát triển ổn định và bền vững của Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam.

Luật số 71/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật về thuế (Luật thuế 71) quy định phân bón sẽ không phải chịu thuế giá trị gia tăng. Tuy nhiên, chính sách này không đạt hiệu quả như kỳ vọng, do việc không khấu trừ thuế giá trị gia tăng khi mua nguyên/nhiên liệu đầu vào, thiết bị sản xuất đã khiến giá thành sản xuất các loại phân bón trong nước tăng từ 6 – 8%.

Không được khấu trừ VAT đã khiến giá thành sản xuất các loại phân bón trong nước tăng từ 6 – 8%. Ảnh: PVFCCo

Từ sau năm 2015, Tập đoàn Hóa chất Việt Nam không được khấu trừ thuế giá trị gia tăng trung bình khoảng 600 – 800 tỷ đồng/năm. Trong khi đó, 2 đơn vị sản xuất phân bón thuộc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam là Tổng công ty Phân bón và Hóa chất Dầu khí – CTCP (PVFCCo) và Công ty CP Phân bón Dầu khí Cà Mau (PVCFC), mặc dù đã áp dụng các giải pháp để tiết giảm chi phí, con số này dao động trung bình trong khoảng 300 – 400 tỷ đồng/năm. Theo ước tính của PVCFC, nếu mức thuế giá trị gia tăng được áp 5%, đơn vị sẽ giảm được chi phí khoảng 160 tỷ đồng/năm.
Ngoài việc ảnh hưởng về mặt giá thành, Luật thuế 71 cũng khiến các doanh nghiệp sản xuất phân bón sụt giảm sản lượng tiêu thụ do giá thành tăng và phải cạnh tranh với nguồn phân bón nhập khẩu. Năm 2015, kết hợp giữa yếu tố Luật thuế 71 có hiệu lực và một số nhân tố thị trường khác, sản lượng urea của PVFCCo đã giảm 13% so với thời điểm năm trước khi Luật này có hiệu lực.
Trước bất cập đó, ngày 28/10/2020, Chính phủ đã có Nghị quyết số 159/NQ-CP đồng ý với đề xuất của Bộ Tài chính trình Quốc hội xem xét, ban hành chính sách thuế giá trị gia tăng mới cho mặt hàng phân bón. Theo đề xuất, kể từ ngày 1/1/2021, phân bón thuộc nhóm hàng hóa chịu thuế giá trị gia tăng là thuế giá trị gia tăng đầu vào của máy móc, nguyên, nhiên vật liệu, dịch vụ đầu vào dùng trong sản xuất mặt hàng phân bón sẽ được áp dụng chính sách khấu trừ toàn bộ với mức thuế suất 5%.
Việc áp dụng chính sách thuế giá trị gia tăng mới, giá phân bón được áp thuế sẽ có tác động tích cực đối với thị trường, làm lợi cho Nhà nước, xã hội và cho chính doanh nghiệp sản xuất kinh doanh phân bón.
Với doanh nghiệp, các doanh nghiệp sản xuất được khấu trừ tiền thuế giá trị gia tăng (hiện nay các đơn vị sản xuất phân bón thông thường đang chịu thuế giá trị gia tăng đầu vào cho các yếu tố như nguyên liệu khí, điện, than,… với mức thuế suất 10 đến 15% nên việc áp thuế đầu ra 5% sẽ được hoàn lại), từ đó tạo điều kiện để các doanh nghiệp sản xuất phân bón giảm giá thành sản xuất; cạnh tranh được với sản phẩm nhập khẩu (do các sản phẩm nhập khẩu hiện nay đang hưởng thuế suất nhập khẩu 0%); có thể hoạt động ổn định trong điều kiện có biến động bất thường về thị trường, chi phí nguyên liệu. Bên cạnh đó, quy mô sản xuất các loại phân bón nội địa (urea, DAP, NPK, …) chỉ đáp ứng khoảng 70% nhu cầu thị trường trong nước trong khi năng lực sản xuất trong nước hiện vẫn chưa khai thác tối đa. Do đó, áp thuế giá trị gia tăng cho phân bón sẽ khuyến khích các doanh nghiệp trong nước có thêm nguồn lực đầu tư mở rộng sản xuất, phát triển sản phẩm mới, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm để đem lại lợi ích cao hơn cho người nông dân.
Với Nhà nước, áp dụng chính sách thuế giá trị gia tăng mới đối với phân bón sẽ giúp tăng thu ngân sách. Theo tính toán sơ bộ, với kim ngạch nhập khẩu thuộc đối tượng không chịu thuế khoảng hơn 1 tỷ USD như hiện nay, mỗi năm ngân sách Nhà nước sẽ được bổ sung thêm hàng nghìn tỷ đồng. Cùng với đó, trong năm qua ngành nông nghiệp Việt Nam cũng chịu ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 khiến tình hình sản xuất, xuất khẩu nông sản gặp nhiều khó khăn. Việc điều chỉnh thuế có thể coi là một công cụ điều tiết vĩ mô quan trọng của Nhà nước giúp hỗ trợ các doanh nghiệp sản xuất phân bón và ngành nông nghiệp có thể phục hồi, tăng tốc trở lại sau giai đoạn khó khăn do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19.
Với xã hội, việc áp dụng chính sách thuế giá trị gia tăng mới sẽ thúc đẩy phát triển các hoạt động phụ trợ khi sản xuất phân bón mở rộng như logistics, bao bì, phân phối… Người nông dân sẽ có cơ hội được sử dụng phân bón chất lượng cao, nhiều chủng loại sản phẩm tốt hơn, qua đó, góp phần hỗ trợ nền nông nghiệp Việt Nam phát triển bền vững, nâng cao chất lượng sản xuất, gia tăng giá trị hàng hóa và khả năng cạnh tranh của nông sản, vừa đảm bảo nhu cầu lương thực/nông sản trong nước vừa đẩy mạnh xuất khẩu cũng như giải quyết các vấn đề an sinh xã hội như tạo thêm cơ hội việc làm, tăng trưởng thu nhập cho nông dân/người lao động.

Đoàn Tiến Quyết (VPI)

Nhân dịp đất nước, dân tộc vui đón mùa xuân mới – Xuân Tân Sửu 2021, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐTV Tập đoàn Dầu khí Việt Nam Hoàng Quốc Vượng đã gửi Thư chúc mừng đến toàn thể cán bộ, đảng viên, công nhân viên lao động Dầu khí đã và đang hết lòng cống hiến sức lực, đóng góp trí tuệ trên những dự án, công trình ở khắp mọi miền Tổ quốc và ở nước ngoài.

Lãnh đạo Tập đoàn Dầu khí Việt Nam tặng quà cho cán bộ, kỹ sư, người lao động đang làm việc trên mỏ Đại Hùng

Nhân dịp đất nước, dân tộc vui đón mùa xuân mới – Xuân Tân Sửu 2021, thay mặt Đảng ủy, lãnh đạo Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam, tôi xin gửi những lời chúc mừng tốt đẹp nhất đến toàn thể cán bộ, đảng viên, công nhân viên lao động Dầu khí đã và đang hết lòng cống hiến sức lực, đóng góp trí tuệ trên những dự án, công trình ở khắp mọi miền Tổ quốc và ở nước ngoài.
Năm 2020, đại dịch Covid-19 và giá dầu giảm sâu đã gây ra một cú sốc lớn, làm kinh tế thế giới và thương mại toàn cầu suy thoái nghiêm trọng, hàng loạt các tập đoàn, công ty Dầu khí lớn trên thế giới thua lỗ, phá sản, sa thải nhân công. Tập đoàn Dầu khí của chúng ta phải đối diện với những thách thức, khó khăn nhất trong lịch sử xây dựng và phát triển.
Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, sự chỉ đạo sâu sát của Chính phủ, sự hỗ trợ, giúp đỡ hiệu quả của các Bộ, Ban, ngành Trung ương, các địa phương, các đối tác và nhân dân cả nước; với quyết tâm lấy lại niềm tin của xã hội và trong chính những người lao động dầu khí; Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam đã kịp thời xây dựng và triển khai hiệu quả Gói giải pháp ứng phó với tác động kép của đại dịch Covid-19 và giá dầu giảm sâu. Với ý chí và quyết tâm cao nhất, Tập đoàn đã cơ bản hoàn thành toàn diện, vượt mức nhiều nhiệm vụ, chỉ tiêu kế hoạch quan trọng; góp phần bảo đảm an ninh năng lượng, an ninh lương thực, an ninh kinh tế và an ninh quốc gia trên biển. Kết quả đó là biểu hiện sinh động của ý chí, nghị lực, trí tuệ, trách nhiệm của người Dầu khí với Đảng, với đất nước, với nhân dân.
Thay mặt Đảng ủy, lãnh đạo Tập đoàn, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến toàn thể cán bộ, đảng viên, công nhân viên, người lao động Dầu khí vì những đóng góp to lớn và ý nghĩa cho sự phát triển bền vững của Tập đoàn, góp phần quan trọng giữ vững ổn định và phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.
Năm 2021, dịch bệnh Covid-19 từng bước được kiểm soát những sẽ vẫn gây ảnh hưởng tiêu cực tới nền kinh tế thế giới và trong nước; giá dầu thô và sản phẩm lọc hóa dầu được dự báo vẫn diễn biến khó lường và duy trì ở mức thấp trong khi nhu cầu tiêu thụ phục hồi chậm; nhiều hạn chế, khó khăn từ những năm trước đây vẫn là bài toán đặt ra, cần tháo gỡ. Các yếu tố này sẽ tiếp tục thử thách ý chí và nghị lực của những “người đi tìm lửa”. Song, chúng ta có quyền tự hào với truyền thống 60 năm kiên trì, nỗ lực thực hiện mong ước của Bác Hồ, tự tin với kinh nghiệm, thành công vượt khủng hoảng kép năm 2020; trong hoàn cảnh bất thường, càng khó khăn càng tỏ rõ bản lĩnh, trí tuệ của người Dầu khí. Tôi tin rằng, với tinh thần hành động: “Đoàn kết – Bản lĩnh – Trách nhiệm – Đổi mới”, với phương châm: “Quản trị biến động, tối đa giá trị, mở rộng thị trường, tận dụng cơ hội, liên kết đầu tư, phục hồi tăng trưởng”, chắc chắn Tập đoàn chúng ta sẽ vượt qua thách thức, tiếp tục hoàn thành và hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu, nhiệm vụ được giao, xứng đáng với trọng trách được Đảng, Nhà nước, nhân dân và các thế hệ người dầu khí giao phó.
Mừng Xuân dân tộc, mừng Đảng quang vinh, thay mặt Đảng ủy, lãnh đạo Tập đoàn, tôi xin chúc toàn thể cán bộ, đảng viên và người lao động đã và đang công tác trong ngành Dầu khí cùng gia đình năm mới sức khỏe, an lành, hạnh phúc và gặt hái nhiều thành công mới!
Chúc Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam Anh hùng tiếp tục lập nên nhiều thắng lợi mới, to lớn và toàn diện hơn nữa.

Tổng giám đốc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam Lê Mạnh Hùng cho biết Tập đoàn sẽ bám sát diễn biến thị trường, cập nhật, hoàn thiện “Gói giải pháp ứng phó với hậu Covid-19” phù hợp với diễn biến dịch bệnh, giá dầu, cung – cầu dầu thô, khí đốt, sản phẩm lọc dầu, hóa dầu… thực hiện thành công các mục tiêu, nhiệm vụ được giao năm 2021, tạo tiền đề, cơ sở vững chắc thực hiện thắng lợi kế hoạch 5 năm 2021 – 2025, góp phần cùng cả nước thực hiện thành công, hiệu quả “mục tiêu kép” vừa phòng chống dịch bệnh, vừa phục hồi và phát triển kinh tế – xã hội trong trạng thái bình thường mới.

Với phương châm hành động “Quản trị biến động, Tối đa giá trị, Mở rộng thị trường, Tận dụng cơ hội, Liên kết đầu tư, Phục hồi tăng trưởng”, Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam đặt mục tiêu năm 2021: Gia tăng trữ lượng dầu khí 13 – 18 triệu tấn; khai thác 9,72 triệu tấn dầu và 9,76 tỷ m3 khí; sản xuất 1,62 triệu tấn đạm, 22,7 tỷ kWh điện và 6,37 triệu tấn xăng dầu. Để thực hiện thành công các chỉ tiêu kế hoạch năm 2021, Tổng giám đốc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam cho biết sẽ tập trung triển khai thực hiện đồng bộ, linh hoạt 5 nhóm giải pháp trọng tâm, tổng thể gồm: (1) Nhóm giải pháp về quản trị; (2) Nhóm giải pháp về tài chính; (3) Nhóm giải pháp về đầu tư; (4) Nhóm giải pháp về thị trường và (5) Nhóm giải pháp về cơ chế chính sách.
Trong đó, Tập đoàn tiếp tục tập trung đổi mới nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp mà trước hết là tiếp tục nâng cao công tác quản trị, quản lý doanh nghiệp từ Công ty mẹ đến từng đơn vị thành viên; xây dựng phương án số hóa toàn diện cơ sở dữ liệu để ứng dụng quản trị trên nền tảng số; triển khai ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin nhằm tiết giảm chi phí quản lý, vận hành.
Bám sát diễn biến thị trường, cập nhật, hoàn thiện “Gói giải pháp ứng phó với hậu Covid-19” phù hợp với diễn biến dịch bệnh, giá dầu, cung cầu dầu thô, khí đốt, sản phẩm lọc dầu, hóa dầu… trong từng thời điểm của 2021. Tiếp tục rà soát chi phí để tối ưu, tiết giảm chi phí vận hành, cân đối sản lượng giữa các mỏ sẵn sàng ứng phó với kịch bản giá dầu thấp hơn dự kiến. Đẩy mạnh hoạt động thăm dò để gia tăng trữ lượng dầu khí, tận dụng cơ hội thời điểm giá dịch vụ thấp.
Tổng giám đốc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam cho biết sẽ tập trung xây dựng, quản trị danh mục đầu tư, tập trung thực hiện các giải pháp thúc đẩy tiến độ các dự án trọng điểm: Chuỗi dự án Lô B, Cá Voi Xanh, LNG Thị Vải, LGP Sơn Mỹ, Dự án nâng cấp mở rộng công suất Nhà máy Lọc dầu Dung Quất, các dự án nhiệt điện Sông Hậu 1, Thái Bình 2… ; tổ chức triển khai thực hiện Đề án tái cấu trúc toàn diện PVN giai đoạn 2021 – 2025 ngay sau khi được cấp thẩm quyền phê duyệt.
Lãnh đạo Tập đoàn Dầu khí Việt Nam yêu cầu cán bộ, đảng viên, người lao động Dầu khí “bằng hành động thiết thực; tiếp tục giữ vững niềm tin, nỗ lực nhiều hơn nữa, nâng cao tinh thần trách nhiệm cao hơn nữa trong từng hành động dù là nhỏ nhất, tận dụng tốt mọi thời cơ, vượt qua mọi khó khăn, thách thức, ra sức thi đua tổ chức thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó. Toàn Tập đoàn vững tin khẳng định: luôn xứng đáng là trụ cột của nền kinh tế đất nước, có nhiều đóng góp quan trọng cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước”.

Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc yêu cầu Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam phải tập trung tái cấu trúc mạnh mô hình quản lý để đảm bảo tinh gọn, hiệu quả hơn, tập trung được nguồn lực hơn.

Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc nghe lãnh đạo Tập đoàn Dầu khí Việt Nam báo cáo về tình hình triển khai các dự án dầu khí. Ảnh: VGP

Tại Hội nghị tổng kết công tác năm 2020 và triển khai nhiệm vụ năm 2021 của Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc chúc mừng tập thể lãnh đạo, cán bộ, người lao động Dầu khí về những kết quả vượt bậc đạt được trong năm qua, thể hiện ý chí, khát vọng và tinh thần Việt Nam, truyền thống, tinh thần đoàn kết, ý chí quyết tâm vượt qua khó khăn, thách thức của “những người đi tìm lửa” vốn đã được hình thành, tôi luyện qua nhiều thế hệ, nay lại càng được khẳng định và phát huy ở tầm cao mới, rất kịp thời, đúng thời điểm.
Gần 60.000 cán bộ, công nhân viên, kỹ sư đã làm việc ngày đêm, tâm huyết, trách nhiệm. Tập đoàn Dầu khí Việt Nam đã trở thành một tập đoàn dầu khí lớn mạnh với nhiều nhà máy, công trình dầu khí quan trọng quốc gia, sở hữu khối tài sản Nhà nước có giá trị trên 35 tỷ USD.
Chia sẻ về các điểm sáng, ấn tượng của Petrovietnam, Thủ tướng cho rằng, trong bối cảnh khó khăn, Tập đoàn đã thăm dò, gia tăng trữ lượng, đạt kết quả tốt, đặc biệt đã phát hiện mỏ Kèn Bầu cùng với mỏ Cá Voi Xanh, bảo đảm cung cấp khí đốt cho nhu cầu công nghiệp, dân dụng của các tỉnh miền Trung, trọng tâm là các nhà máy điện trong thời gian dài.
Các đơn vị thành viên, từ chỗ bị động, khó khăn, nay lấy lại được đà tăng trưởng mới. Petrovietnam đã nộp ngân sách Nhà nước 83.000 tỷ đồng, đứng thứ 2 trong các tập đoàn, tổng công ty Nhà nước đóng góp cho ngân sách.
Thủ tướng Chính phủ khẳng định, Petrovietnam đã vượt qua giai đoạn khó khăn nhất, vượt qua sự ảnh hưởng trực tiếp, nặng nề nhất của “tác động kép” do đại dịch Covid-19 và giá dầu giảm sâu trong thời gian qua, đã thực sự thực hiện được lời nhắn nhủ của Thủ tướng Chính phủ khi làm việc với Tập đoàn năm 2018: “Trong khó khăn càng phải vững vàng, bằng bản lĩnh để vượt qua thử thách”.
Nhấn mạnh vai trò của của tập thể đối với sự phát triển, Thủ tướng Chính phủ đề nghị Bộ Công Thương chủ trì phối hợp với các bộ, ngành và Petrovietnam xây dựng trình Quốc hội sớm ban hành Luật Dầu khí mới trong năm 2021 theo chương trình xây dựng pháp luật đã được Chính phủ báo cáo Quốc hội. Bộ Tài chính, Ủy ban Quản lý vốn Nhà nước tại Doanh nghiệp sớm hoàn thiện để trình Thủ tướng ban hành cơ chế tài chính của Công ty mẹ – Tập đoàn Dầu khí Việt Nam.
Giao nhiệm vụ cho Tập đoàn, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu, trước hết tiếp tục xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh, trong đó gắn liền công tác chính trị, tư tưởng với công tác cán bộ, toàn Đảng bộ có sức sống mới, vượt qua khó khăn. Đánh giá, bố trí cán bộ cho đúng để phát huy sở trường.
Cần phát huy tối đa nguồn lực, kinh nghiệm và quan hệ của một doanh nghiệp có vai trò đầu tàu của nền kinh tế, trở thành đơn vị kiểu mẫu trong việc hội nhập sâu rộng với nền kinh tế khu vực và thế giới. Thủ tướng Chính phủ đánh giá cao giải pháp của Tập đoàn trong năm 2021: “Quản trị biến động – Tối ưu giá trị – Mở rộng thị trường – Tận dụng cơ hội – Liên kết đầu tư – Phục hồi tăng trưởng”.
Là doanh nghiệp sở hữu chuỗi giá trị có ảnh hưởng quyết định đến tổng thể nền kinh tế và an ninh năng lượng, là tập đoàn nắm giữ từ khâu thăm dò, khai thác, chế biến, phân phối và sản xuất sản phẩm cuối cùng là xăng dầu, điện, hạt nhựa, đạm… Petrovietnam có điều kiện thuận lợi để tạo ra những sản phẩm có thương hiệu mạnh về chất lượng và sức cạnh tranh cao.
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Petrovietnam phải khắc phục cho được các tồn tại, trước hết là việc xử lý 5/12 dự án còn chậm, chưa chuyển biến, chưa có giải pháp đột phá; đẩy mạnh việc triển khai các dự án nhóm A còn chậm trễ. Tập đoàn cũng cần tập trung giải quyết tình trạng cồng kềnh trong bộ máy, còn có đơn vị hoạt động chưa hiệu quả.
Phải tập trung tái cấu trúc mạnh mô hình quản lý để đảm bảo tinh gọn, hiệu quả hơn, tập trung được nguồn lực hơn. Theo đó, cần khẩn trương xem xét lại mô hình hoạt động của một số đơn vị thành viên, tránh trùng lặp giữa các đơn vị, hiệu quả kém.
“Việc tái cấu trúc đụng đến con người, bộ máy, cho nên phải có phương án cụ thể, chặt chẽ”, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu trong toàn Tập đoàn phải tạo ra không khí làm việc mới, đặc biệt sử dụng cán bộ công tâm, đúng người, đúng việc. “Làm sao thu hút nhân tài, những người giỏi về đây”. Phải cải cách để có đầu mối mạnh hơn nhằm phát huy sức mạnh và có khả năng cạnh tranh với các công ty đa quốc gia; tập trung cao cho nghiên cứu, áp dụng công nghệ khoa học mới vào sản xuất kinh doanh.
Thủ tướng Chính phủ mong muốn Petrovietnam tiếp tục phát huy truyền thống và thành công của năm 2020 để có bước phát triển mới, xứng đáng với niềm tin yêu của Đảng, Nhà nước và nhân dân.

Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐTV Tập đoàn Dầu khí Việt Nam Hoàng Quốc Vượng cho rằng việc hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch năm 2021 có ý nghĩa quan trọng, tạo niềm tin, khí thế cho toàn Tập đoàn khi bước vào giai đoạn phát triển mới.

Thực hiện kế hoạch 2021, bên cạnh những cơ hội là thách thức lớn: Dịch bệnh Covid-19 tiếp tục tác động, ảnh hưởng tiêu cực tới hoạt động của Tập đoàn (thị trường dầu khí, sản xuất, kinh doanh và công tác đầu tư của Tập đoàn). Xu thế chuyển dịch năng lượng từ năng lượng hóa thạch sang năng lượng tái tạo tiếp tục diễn ra mạnh mẽ, tác động trực tiếp và tiêu cực tới hoạt động dầu khí. Giá dầu khí mặc dù đã tăng lên trong những ngày vừa qua nhưng khó có thể tăng cao trong năm 2021. Tình hình Biển Đông vẫn tiếp tục diễn biến phức tạp, ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động tìm kiếm thăm dò và khai thác dầu khí của Tập đoàn. Việc điều chỉnh khuôn khổ pháp lý cho hoạt động dầu khí (Luật Dầu khí, quy chế tài chính…) cho phù hợp với thực tiễn ngành Dầu khí Việt Nam hiện nay cần nhiều thời gian.

Bên cạnh những khó khăn mang tính vĩ mô trên, những khó khăn nội tại của Tập đoàn cũng không hề nhỏ: Giá dầu giảm sâu dẫn đến nguồn thu của Tập đoàn suy giảm mạnh (lợi nhuận hợp nhất năm 2020 giảm trên 63% so với năm 2019), ảnh hưởng rất lớn đến nguồn lực của Tập đoàn để thực hiện các mục tiêu, kế hoạch trung hạn, dài hạn và chiến lược phát triển của Tập đoàn trong những năm tới. Các khó khăn, vướng mắc tại các dự án đầu tư lớn của Tập đoàn như: Thái Bình 2, Long Phú 1, các dự án ethanol… vẫn chưa được giải quyết căn bản, tiếp tục tác động, ảnh hưởng tiêu cực tới hoạt động của Tập đoàn. Việc thực hiện các cam kết chính phủ cho các dự án dầu khí trọng điểm tiếp tục tạo áp lực cho hoạt động cũng như tình hình tài chính của Tập đoàn.

Kế thừa những kết quả quan trọng, toàn diện đã đạt được trong năm 2020, phát huy tinh thần đoàn kết, quyết tâm vượt qua khó khăn, thách thức, tận dụng tốt thời cơ để nỗ lực phấn đấu hoàn thành vượt mức các nhiệm vụ, mục tiêu, chỉ tiêu kế hoạch năm 2021, toàn Tập đoàn cần thể hiện tinh thần, khát vọng phát triển “chủ động, tích cực hơn, năng động, sáng tạo hơn, đạt được kết quả tổng thể cao trong năm 2021” với phương châm hành động “Bản lĩnh, trách nhiệm, đoàn kết, đổi mới”; triển khai ngay các nhiệm vụ trọng tâm trong năm 2021.

Chủ tịch HĐTV Tập đoàn Dầu khí Việt Nam yêu cầu tiếp tục rà soát chiến lược phát triển đơn vị trong 10 năm tới, kế hoạch phát triển 5 năm có tính tới tác động sâu rộng của xu hướng chuyển dịch năng lượng; tác động của cách mạng công nghiệp 4.0 để có định hướng lớn trong sản xuất, kinh doanh của Tập đoàn, của đơn vị. Quan tâm hơn nữa tới công tác dự báo thị trường, các vấn đề kinh tế – chính trị trong năm 2021 để đưa ra các kịch bản ứng phó và có phương hướng quản trị phù hợp; nghiên cứu và tìm kiếm các cơ hội đầu tư mới, các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh mới, sản phẩm mới phù hợp với năng lực, tiềm năng, thế mạnh của Tập đoàn.

Chủ tịch HĐTV Tập đoàn Dầu khí Việt Nam yêu cầu tạo dựng mối liên kết hiệu quả giữa các đơn vị trong chuỗi giá trị để phát huy các nguồn lực trong Tập đoàn, nhằm phát huy nội lực, nâng cao khả năng cạnh tranh. Tiếp tục thực hiện tái cấu trúc các đơn vị hướng tới mục tiêu giảm giá thành sản phẩm, phản ứng nhanh, kịp thời với những biến động của thị trường; nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh; đảm bảo lợi ích của người lao động. Nâng cao chất lượng quản lý, quản trị doanh nghiệp, nâng cao tinh thần trách nhiệm, dám nghĩ, dám làm, đổi mới, sáng tạo (vốn một thời là giá trị văn hóa của người dầu khí), tất cả vì sự phát triển của đơn vị, của Tập đoàn. Ưu tiên nguồn lực để giải quyết các khó khăn, vướng mắc tại các dự án đầu tư của Tập đoàn; nâng cao năng lực đầu tư xây dựng, đẩy nhanh tiến độ các dự án đầu tư xây dựng của Tập đoàn: các dự án điện, các dự án dầu khí trọng điểm…

Trong thời đại công nghệ số, thông tin và tri thức là tài sản quý giá nhất đối với các doanh nghiệp, với mục tiêu thu thập và tổng hợp tối đa thông tin/tri thức, phân tích và xử lý toàn diện để thấu hiểu bản chất và sử dụng hiệu quả để tạo lợi thế cạnh tranh. Vì thế, bảo mật thông tin/dữ liệu là vấn đề sống còn đối với doanh nghiệp, khi mô hình làm việc từ xa ngày càng được ứng dụng rộng rãi. Tiến sĩ Vũ Ngọc Trình – Trưởng Ban Công nghệ Thông tin Viện Dầu khí Việt Nam (VPI) trao đổi về vấn đề này.

PV: Xin ông cho biết cách mạng công nghiệp 4.0 đã và đang tạo ra sự thay đổi như thế nào đối với các doanh nghiệp dầu khí?
TS. Vũ Ngọc Trình: Cách mạng công nghiệp 4.0 đã và đang tạo ra sự thay đổi cơ bản, vượt bậc về công nghệ trong việc thu thập thông tin (cảm biến thông tin ngày càng rẻ, kết nối di động đã rộng rãi và phổ biến) và phân tích và xử lý thông tin/tri thức để thấu hiểu bản chất (sức mạnh xử lý, lưu trữ, tăng mạnh; nền tảng công nghệ trí tuệ nhân tạo, học máy phát triển nhanh) để từ đó các doanh nghiệp có thể ra quyết định sản xuất kinh doanh hàng ngày hoặc hoạch định chiến lược, kế hoạch dài hạn hiệu quả hơn.
Theo McKinsey, 60 – 90% hoạt động hàng ngày của ngành dầu khí có thể được hỗ trợ bởi AI và học máy. Ứng dụng của trí tuệ nhân tạo vượt xa giới hạn “cải thiện nhanh hơn và tốt hơn” các quy trình công việc. Từ các hoạt động thăm dò ban đầu cho đến việc đưa sản phẩm đến người dùng cuối, AI mở ra các phương pháp mới để thăm dò, phát triển, sản xuất, vận chuyển, chế biến và kinh doanh dầu khí.
Theo Bain & Company, các công ty dầu khí có thể cải thiện hiệu suất từ 6 – 8% với việc tối ưu hóa dữ liệu. Việc số hóa hoạt động tại các hoạt động hạ nguồn dầu khí có thể giúp tiết giảm 12 – 20% chi phí hoạt động, dừng hoạt động đột xuất giảm từ 15 – 25%, hiệu quả hoạt động tăng 8 – 12%, hiệu suất HSSE (sức khỏe, an toàn, an ninh và môi trường) được cải thiện, tăng năng suất lao động.
Ví dụ ExxonMobil hợp tác với MIT để thiết kế robot AI thám hiểm đại dương nhằm phát hiện rò rỉ dầu khí dưới đáy đại dương. Chevron và Microsoft hợp tác phát triển giải pháp DELFI, nền tảng trí tuệ nhân tạo dựa trên công nghệ điện toán đám mây, giúp nâng cao các dịch vụ kỹ thuật số trong các dự án thăm dò, phát triển, khai thác mỏ, tồn trữ và hệ thống các đường ống dầu khí. Total hợp tác với Google Cloud phát triển hệ thống AI để phân tích dữ liệu dưới bề mặt nhằm cải thiện các quy trình thăm dò khai thác…

PV: VPI đang triển khai các nghiên cứu và ứng dụng công nghệ 4.0 trong công nghiệp dầu khí như thế nào, thưa ông?
TS. Vũ Ngọc Trình: VPI đang nghiên cứu xây dựng chiến lược, chương trình chuyển đổi số và hoàn thiện hệ thống quản trị dựa trên nền tảng công nghệ số (cloud, block chain, AI, WebGIS…); ứng dụng big data, AI, block chain,… trong xử lý, phân tích tài liệu địa chất, địa vật lý, xây dựng mô hình địa chất nhằm nâng cao hiệu quả công tác tìm kiếm thăm dò dầu khí; nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật số nhằm đánh giá và hoàn thiện công nghệ khai thác và nâng cao hệ số thu hồi dầu khí; ứng dụng công nghệ số/công nghệ 4.0 trong vận hành các nhà máy chế biến dầu khí; xây dựng các phần mềm/giải pháp an ninh bảo mật thông tin/dữ liệu (như công nghệ watermarking)…

PV: Trong thời đại công nghệ số, thông tin và tri thức là tài sản quý giá nhất đối với các doanh nghiệp, vậy doanh nghiệp cần bảo mật thông tin/dữ liệu như thế nào?
TS. Vũ Ngọc Trình: Mọi doanh nghiệp ứng dụng công nghệ thông tin và sử dụng internet trong hoạt động kinh doanh đều có nguy cơ bị đánh cắp dữ liệu, có thể dẫn đến hậu quả nghiêm trọng. Về bảo mật dữ liệu, các doanh nghiệp cần tập trung vào giải pháp an ninh, bảo mật như: quản lý người dùng tốt, xác thực nhiều yếu tố, mã hóa/giải mã, kiểm soát thiết bị đầu vào đầu ra, cập nhật bản vá lỗi phần mềm…
Công nghệ watermarking chủ yếu được dùng để bảo mật thông tin số (bản quyền và tình báo), trong thời đại 4.0, watermarking được sử dụng nhiều trong bảo vệ bản quyền các tài sản trí tuệ/tài sản số/dữ liệu số.
VPI vừa hoàn thành việc xây dựng phần mềm xác định nguồn gốc tập tin (file) dữ liệu định dạng pdf sử dụng công nghệ watermarking giúp quản lý việc download các tài liệu/dữ liệu định dạng pdf, sau đó sẽ áp dụng cho các dạng dữ liệu/tài liệu khác.

PV: Ông có thể chia sẻ cụ thể hơn việc sử dụng công nghệ watermarking trong bảo mật thông tin/dữ liệu mà VPI mới thực hiện thành công?
TS. Vũ Ngọc Trình: Sản phẩm này đã được tích hợp vào phần mềm quản lý văn bản điện tử online VPIOffice của VPI để quản lý việc sử dụng tài liệu đúng người dùng, đúng mục đích. Sản phẩm có các tính năng chính như: Lưu trữ, quản lý các file pdf; cho phép chèn thêm một/nhiều dấu hiện nhận biết vào file pdf; cho phép quản lý thông tin người dùng (họ và tên, username, ngày giờ download, chỉ IP/MAC…); cho phép truy vết nguồn gốc file và truy vết nguồn gốc người sử dụng (ai tải lên, ngày giờ tải lên; ai tải xuống, ngày giờ tải xuống); cho phép tìm kiếm theo các tiêu chí khác nhau (theo tên file, theo người sử dụng, theo các chức năng truy vết: người tải lên, ngày giờ tải lên, người tải xuống, ngày giờ tải xuống); cho phép thống kê và vẽ biểu đồ theo nhiều tiêu chí khác nhau (theo tài liệu và theo người dùng)…

PV: Sản phẩm do VPI thực hiện có tính năng gì mới so với công nghệ watermarking mà thế giới đã thực hiện, thưa ông?
TS. Vũ Ngọc Trình: Tập tin định dạng pdf có cấu trúc gồm nhiều lớp thông tin, thông thường sẽ được chèn một lượng nhỏ thông tin đã mã hóa (watermarked) vào một trong số các lớp thông tin của tập tin pdf. Tuy nhiên, với cách làm này, một số công cụ có thể tách lớp thông tin để xóa đi thông tin mã hóa watermark trong tập tin pdf.
Dựa trên công nghệ watermarking mới nhất của thế giới, VPI đã cải tiến thuật toán và đưa vào các giải pháp mới để nâng cao tính bảo mật và rất khó để có thể bẻ khóa được tập tin pdf khi đã được nhúng thông tin mã hóa (watermarked). VPI đã chuyển nội dung của tập tin pdf thành định dạng ảnh, sau đó nhúng thông tin mã hóa watermark vào trong tập tin ảnh, tiếp theo chuyển ngược từ định dạng ảnh sang định dạng pdf. Với cách làm này, tính bảo mật được nâng cao rõ rệt.
Được biết, một tập đoàn hàng đầu Việt Nam đã và đang sử dụng watermark trong quản lý các tài liệu định dạng pdf. Tôi không biết cụ thể doanh nghiệp này dùng thuật toán/phương pháp watermarking nào. Tuy nhiên khi kiểm tra mức độ an ninh bảo mật, một số công cụ có thể tách/xóa được thông tin watermark nhúng trong file pdf của doanh nghiệp này nhưng không thể tách/xóa được các lớp thông tin watermark nhúng trong tập tin pdf của VPI. Tôi cho rằng đây là một trong những điểm mới và khác biệt chính của sản phẩm do VPI thực hiện.

PV: Theo ông, các doanh nghiệp cần thực hiện các giải pháp gì để “nắm bắt” thời cơ từ cuộc cách mạng công nghiệp 4.0?
TS. Vũ Ngọc Trình: Theo tôi, các doanh nghiệp cấp thiết phải chuyển đổi từ hoạt động theo mệnh lệnh hành chính theo kiểu quản lý nhà nước sang hoạt động dựa vào thông tin, ra quyết định dựa trên thông tin (data-driven) rồi phát triển đến mức cao hơn là mọi quyết định đều phải dựa trên sự thấu hiểu bản chất thông tin (insights-driven). Xây dựng mô hình quản trị doanh nghiệp thông minh tại các đơn vị, sử dụng “dữ liệu lớn” về sản xuất kinh doanh và dịch vụ nhằm hỗ trợ các cấp lãnh đạo trong việc ra quyết định. Tăng cường đầu tư cảm biến và thiết bị IoT để thu thập dữ liệu trong toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh hàng ngày; xây dựng cơ sở dữ liệu trong tất cả các khâu thuộc chuỗi giá trị dầu khí. Đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng trí tuệ nhân tạo, học máy để phân tích, xử lý và thấu hiểu dữ liệu từ đó tìm ra các quy luật, tri thức và ứng dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh; trước mắt có thể ưu tiên ứng dụng AI cho dự báo trong bảo dưỡng thiết bị (predictive maintenance). Hiện nay, các sản phẩm đa số dựa trên nền tảng internet, nhưng kỷ nguyên tiếp theo sẽ là dựa trên nền tảng của công nghệ blockchain. Do đó, tìm hiểu, nghiên cứu và ứng dụng công nghệ blockchain ngay từ bây giờ là việc các doanh nghiệp cần làm. Đặc biệt, trong các giải pháp, cần chú trọng bảo mật thông tin/dữ liệu để sử dụng an toàn, hiệu quả.

PV: Trân trọng cảm ơn ông./.

Trong Báo cáo “Triển vọng năng lượng ngắn hạn” (STEO), Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA) dự báo giá dầu Brent giao ngay sẽ đạt mức trung bình 53 USD/thùng trong cả năm 2021 và 2022, tăng 11 USD/thùng so với mức giá trung bình năm 2020 (42 USD/thùng). EIA dự báo giá dầu WTI sẽ thấp hơn trung bình khoảng 3 USD/thùng so với giá dầu Brent vào năm 2021 và thấp hơn 4 USD/thùng so với giá Brent vào năm 2022.

TS. Nguyễn Hồng Minh – chuyên gia của Viện Dầu khí Việt Nam (VPI) đã phân tích mô hình chuyển đổi số trong lĩnh vực thăm dò, khai thác dầu khí của Deloitte (Deloitte’s Digital Operations Transformation); thực trạng chuyển đổi điều hành số và chuyển đổi số trong quan hệ với khách hàng; các khó khăn thách thức cơ bản trong quá trình chuyển đổi số và đề xuất các giải pháp chuyển đổi số cho ngành công nghiệp dầu khí Việt Nam.

Trong bài báo “Chuyển đổi số trong công nghiệp dầu khí: Thực trạng và triển vọng tại Việt Nam” đăng trên Tạp chí Dầu khí, TS. Nguyễn Hồng Minh cho rằng nếu số hóa (digitalization) là quá trình chuyển đổi các hệ thống thường sang hệ thống kỹ thuật số thì chuyển đổi số (digital transformation) nhằm khai thác các dữ liệu có được từ quá trình số hóa, rồi áp dụng các công nghệ để phân tích, biến đổi các dữ liệu đó và tạo ra các giá trị mới. Như vậy, mục tiêu chuyển đổi số là phải tạo ra các giá trị gia tăng mới, sản phẩm, dịch vụ mới, cách làm mới mà cuối cùng phải giúp cho việc kinh doanh hiệu quả hơn.

Trong Báo cáo của Deloitte [2], mô hình chuyển đổi điều hành số (Deloitte’s Digital Operations Transformation (DOT)) là lộ trình chuyển đổi số gồm 3 giai đoạn: Chuyển thế giới vật lý thành thế giới số (physical to digital), xử lý thế giới số (digital to digital) và chuyển thông tin điều hành từ thế giới số về thế giới vật lý (digital to physical). 3 giai đoạn này còn được chia thành 10 bước. Giai đoạn 1: Cơ khí hóa (mechanize), Cảm biến hóa (sensorize), truyền dữ liệu (transmit). Giai đoạn 2: Tích hợp (integrate), phân tích (analyze), hình ảnh hóa (visualize), tăng cường thực tế (augment). Giai đoạn 3: Robot hóa (robotize), nhúng sản phẩm mới vào hệ thống (craft) và ảo hóa toàn bộ tài sản (virtualize).

Hành trình đó được tiến hành như những vòng lặp. Sau khi áp dụng 10 bước cho một đối tượng hay tài sản cụ thể, doanh nghiệp quay trở lại áp dụng lần lượt cho cả hệ thống gồm nhiều tài sản và cuối cùng triển khai cho cả hệ sinh thái, gồm cả nhà cung cấp và khách hàng. Như vậy, ngay cả 10 bước trên cũng tiến hóa cùng với toàn bộ hệ thống và toàn hệ sinh thái, trong đó trung tâm là hệ thống an ninh. Toàn bộ quá trình chuyển đổi đó tiến hóa, nhưng xoay quanh cốt lõi là văn hóa hay bản sắc số, mà Deloitte gọi gen số của doanh nghiệp (Digital DNA). Mỗi bước tiến hóa là sự thay đổi về chất, đưa toàn bộ hệ sinh thái lên trình độ cao hơn, nhưng cơ bản các bước chuyển đổi vẫn như vậy (Hình 1). Đây được gọi là quá trình tiến hóa số của doanh nghiệp.

Hành trình 3 giai đoạn và 10 bước chuyển đổi số mang tính tổng quát cho các ngành công nghiệp khác nhau. Doanh nghiệp có thể vận dụng cho chiến lược chuyển đổi số của mình. Tùy đặc thù từng lĩnh vực, có thể bỏ qua một số bước và nội hàm của từng bước sẽ mang nội dung khác nhau, nhưng về tổng thể DOT có thể coi đây là mô hình chung. Vận dụng mô hình DOT, có thể phân tích, đánh giá hiện trạng trên lộ trình chuyển đổi số và đề xuất các bước chuyển đổi tiếp theo cho các lĩnh vực hoạt động của ngành dầu khí. Trong mỗi lĩnh vực, cần chia ra hợp lý thành từng khâu cơ bản; vận dụng khung của DOT, phân tích, đánh giá thực trạng chuyển đổi số cho từng khâu, từ đó cũng chỉ ra các bước cần làm tiếp theo trên lộ trình chuyển đổi số này. Nếu xây dựng một ma trận, với một chiều là 10 bước chuyển đổi số, chiều kia là các khâu hoạt động của một lĩnh vực dầu khí, trên đó đánh dấu hiện trạng chuyển đổi số của từng khâu và mục tiêu tiếp theo, sẽ có được một bức tranh, có thể tạm gọi là Bản đồ hiện trạng số và định hướng chuyển đổi số tổng quát nhất.

Thực trạng chuyển đổi số của công nghiệp dầu khí
Lĩnh vực thượng nguồn có ý nghĩa quan trọng, có khả năng mang lại giá trị gia tăng cao và cũng là lĩnh vực cốt lõi của công nghiệp dầu khí Việt Nam.
Trong lĩnh vực thượng nguồn, Deloitte chia thành các lĩnh vực nhỏ hơn, là thăm dò, phát triển và khai thác. Tiếp theo, thăm dò được chia thành các khâu cơ bản nhất: 1) Nghiên cứu địa chất; 2) Nghiên cứu địa chấn; 3) Khoan thăm dò. Phát triển bao gồm: 1) Lập kế hoạch phát triển; 2) Thiết kế và xây dựng; 3) Khoan phát triển. Khai thác bao gồm: 1) Hoàn thiện giếng; 2) Điều hành khai thác; 3) Can thiệp và sửa chữa giếng. Đặt 10 bước của chuyển đổi số vào 9 khâu của chuỗi thăm dò, phát triển khai thác dầu khí, cùng với những phân tích sau đây, có bản đồ hiện trạng số và định hướng chuyển đổi số của công nghiệp dầu khí thế giới.

Khâu nghiên cứu địa chấn, nhờ có lịch sử hơn 80 năm nghiên cứu, đánh giá các thành hệ địa chất, đã trở thành khâu tiên phong trong chuyển đổi số. Nhờ những máy tính tốc độ cao, cùng với những thuật toán tiên tiến, ngày nay các doanh nghiệp có thể phân tích khối lượng dữ liệu lớn, trong thời gian ngắn, tự động cho ra kết quả là mô hình phức tạp của tầng chứa. Một số doanh nghiệp đã đưa thêm thực tế ảo vào cùng kết quả minh giải địa chấn 3D để hiểu rõ hơn đặc điểm tầng chứa. Minh họa cho các kỹ thuật này là việc ExxonMobil phân tích tài liệu địa chấn để dự báo phân bố nứt nẻ trong các tầng chứa chặt sít, làm cơ sở cho tối ưu vị trí khoan và tăng khả năng khai thác của giếng. Đại học Tổng hợp Calgary cho tương tác mô hình mô phỏng với mô hình 3D thực tế để giúp các nhà điều hành Canada quản lý quá trình bơm hơi nóng và khai thác dầu nặng được tối ưu. Repsol đang triển khai dự án 3 năm áp dụng công nghệ xử lý dữ liệu địa chất, địa vật lý lớn để giảm rủi ro thăm dò, với mục tiêu cụ thể là tăng xác suất khoan thăm dò thành công, bắt đầu từ cuối năm thứ 2 của dự án.

Ở Việt Nam, lĩnh vực thăm dò cũng có truyền thống lâu đời, từ lâu đã có mức độ tích hợp dữ liệu cao, sử dụng nhiều công nghệ tiên tiến, cả trong thu thập, xử lý và minh giải tài liệu. Dữ liệu thu thập ngày càng nhiều, như trường hợp thu nổ 3D/4C của Vietsovpetro. Tính tích hợp thể hiện trong các công trình liên kết tài liệu địa chấn để nghiên cứu địa chất, đánh giá tiềm năng dầu khí trên toàn thềm, xây dựng cơ sở dữ liệu trữ lượng và tài nguyên cho các play, bể trầm tích và toàn thềm. Đã bước đầu nghiên cứu, áp dụng công nghệ xử lý, minh giải đặc biệt như: phân tích AVO, thuộc tính địa chấn, dựng ảnh tán xạ, tự động nhận biết đứt gãy…

Khâu khoan phát triển lại có những đặc thù riêng. Công tác khoan và hoàn thiện giếng chủ yếu do các nhà thầu dịch vụ tiến hành. Hàng loạt khâu dịch vụ với nội dung, mục tiêu, cách thức tiến hành khác nhau, cùng với hàng trăm bộ công cụ, phần mềm, công nghệ bản quyền của các nhà thầu khác nhau làm cho các dữ liệu của quá trình khoan khó tích hợp khi thiếu một chuẩn dữ liệu chung. Vì vậy, khâu này chủ yếu đang đặt ra mục tiêu tích hợp dữ liệu. Với sự cố gắng của nhiều tổ chức/đơn vị, Mô hình dữ liệu khoan WITSML (Wellsite Information Transfer Standard Markup Language) đã ra đời với hy vọng các nhà thầu và các công ty dịch vụ sẽ cùng thống nhất dùng chung dữ liệu. Sau khi tích hợp được dữ liệu khoan, các công cụ phân tích sẽ đưa khâu này lên bước tiến mới trong chuyển đổi số. Đón đầu xu thế này, Noble và Baker Hughes đang hợp tác phát triển hệ thống phân tích tín hiệu tần số cao từ hệ thống truyền động, cường độ sử dụng các thiết bị thành phần… để tối ưu hóa quá trình khoan. Các tín hiệu này được đo đạc, thu thập trên giàn ngoài khơi, sau đó được chuyển về trung tâm tính toán trên bờ. Tại đây, những thuật toán hiện đại sẽ dự báo các sự cố về rung lắc, nhiệt độ… hàng tuần trước khi có thể xảy ra, góp phần bảo đảm an toàn, tránh thời gian dừng, chờ, tăng tốc độ, nâng cao hiệu quả quá trình khoan. Trong lĩnh vực khoan ở Việt Nam, trong đó có khoan phát triển, rất nhiều dữ liệu được thu thập trong quá trình triển khai. Tuy nhiên, các dữ liệu này còn rời rạc, lưu giữ theo dự án, nhà thầu, hợp đồng PSC và chưa được tích hợp tốt để xử lý và giải các bài toán tối ưu.

Khâu khai thác lại hoàn toàn khác 2 khâu trước. Khoảng 40% lượng dầu khí sản xuất trên thế giới đến từ các mỏ có tuổi đời hơn 25 năm. Phần tài sản già cỗi khá lớn, phân bố không tập trung, cơ chế hoạt động với nhiều nhà đầu tư cùng tâm lý ưu tiên cho dòng tiền ổn định… đã làm cho khâu này ít hiện đại hơn, số lượng cảm biến không nhiều, dữ liệu thu thập ít hơn so với các khâu khác. Theo đánh giá của WellAware, đến những siêu công ty đa quốc gia với tiềm lực công nghệ và tài chính mạnh mới đủ khả năng theo dõi sát sao khoảng 60 – 70% số giếng khai thác của mình. Với thực tế đó, chiến lược chuyển đổi số của các doanh nghiệp dầu khí là phân loại tài sản và đầu tư có chọn lọc. Những tài sản mới, có tiềm năng cao, nên đầu tư thu thập dữ liệu bài bản từ đầu. Những tài sản tiềm năng trung bình, nên đầu tư khôn ngoan, lắp đặt những cảm biến thông dụng, bảo đảm hiệu quả. Với những tài sản quá già cỗi, tiềm năng thấp, nên tối ưu những tài sản đang có. Trên cơ sở dữ liệu thu thập và tích hợp được, có thể triển khai những thuật toán tối ưu hóa điều hành khai thác.

Một nhà điều hành ở Kazakhstan, gặp phải vấn đề về áp suất bơm và sản lượng khai thác không như thiết kế, đã lắp đặt các bơm điện chìm mới và áp dụng công cụ phân tích thời gian thực số liệu từ các bơm này để điều chỉnh lịch trình và công suất bơm. Theo báo cáo, giải pháp này đã giúp giảm được 27% thời gian dừng, chờ, xử lý sự cố của giếng.
BP đang hợp tác Silicon Microgravity phát triển cảm biến nhận biết dầu – nước đặc biệt nhỏ, có thể đưa sâu vào giếng, vỉa để theo dõi khả năng ngập nước trong giếng khai thác. Dự báo việc áp dụng cảm biến này có thể giúp nâng cao khả năng cho dòng lên 2%.

Apache đang phối hợp với Ayata áp dụng các thuật toán phân tích cơ sở dữ liệu thông tin về môi trường làm việc và hồ sơ theo dõi hỏng hóc của 100.000 bơm điện để tìm ra 40 thông số quan trọng quyết định hoạt động tin cậy của bơm. Qua đó, có thể nâng cao hiệu quả sử dụng bơm điện ngầm trong khai thác. Tương tự, các công ty dầu khí hoạt động ở Biển Bắc đang triển khai một dự án hợp tác xây dựng một nền tảng thương mại và quản lý tới 200.000 loại phụ tùng dự trữ chung. Giải pháp này giúp các doanh nghiệp giảm thiểu thời gian dừng và chi phí lưu kho [2].
Lĩnh vực khai thác dầu khí ở Việt Nam có hơn 30 năm phát triển. Công tác tối ưu khai thác, gia tăng thu hồi dầu luôn được chú trọng. Tuy nhiên, số lượng cảm biến không nhiều, số lượng tham số có thể theo dõi được còn hạn chế… đã làm cho việc tích hợp và xử lý dữ liệu gặp khó khăn.

Cách đây hơn 1 thập kỷ, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) đã giao Viện Dầu khí Việt Nam (VPI), phối hợp cùng Halliburton, triển khai nghiên cứu tiền khả thi xây dựng Trung tâm Dữ liệu Thăm dò Khai thác Dầu khí. Trung tâm này có khả năng tích hợp dữ liệu của toàn ngành, điều hành trực tuyến các hoạt động ngoài khơi, khi đi vào vận hành, sẽ đưa công nghiệp dầu khí Việt Nam tiến thẳng đến giai đoạn hình ảnh hóa và tăng cường thực tế.

Deloitte xây dựng bản đồ hiện trạng số và định hướng chuyển đổi số của lĩnh vực trung nguồn [4], được chia thành các lĩnh vực nhỏ và các khâu như sau: Thu thập và xử lý (gồm: hệ thống thu thập, thiết bị xử lý); đường ống (gồm: đường ống, hệ thống bơm, đo); lưu trữ (gồm: điều hành trạm; quản lý kho chứa). Về tổng thể, lĩnh vực trung nguồn có hạn chế nhất định trong chuyển đổi số so với lĩnh vực thượng nguồn, chủ yếu ở bước cảm biến hóa và tích hợp. Tình hình ở Việt Nam cũng tương tự, số liệu rời rạc, chưa được tích hợp. Dự báo chuyển đổi số ở lĩnh vực này có thể nhảy vọt, sớm tiếp cận các bước phân tích, hình ảnh hóa và tăng cường thực tế.

Trong lĩnh vực hạ nguồn ở Việt Nam, tại các nhà máy chế biến dầu khí, số liệu đã được thu thập, tổng hợp và có phân tích bước đầu. Tuy nhiên, việc phân tích cần đi vào chiều sâu, trên nền tảng số liệu đầy đủ hơn, kỹ thuật phân tích hiện đại hơn và tiến tới các bước hình ảnh hóa và tăng cường thực tế, nhằm hỗ trợ đưa ra các quyết định điều hành kịp thời, tối ưu hóa sản xuất, bảo đảm an toàn. Lưu ý rằng, trong lĩnh vực này mọi sáng kiến, giải pháp số cần xuất phát từ mục tiêu kinh doanh [1] và hướng tới những mô hình, phương thức kinh doanh mới.

Trong chuyển đổi số quan hệ với khách hàng, trên thế giới có nhiều sáng kiến, giải pháp và mô hình hay. Ở Việt Nam, đáng chú ý là chương trình PVOIL Easy dành cho khách hàng doanh nghiệp cần quản lý trực tuyến giao dịch mua bán xăng dầu. Đây là giải pháp dùng Thẻ điện tử (digital card), đọc QR code trên thiết bị di động của tài xế và nhân viên bán hàng để thực hiện giao dịch mua bán xăng dầu tại bất kỳ cửa hàng xăng dầu nào trong toàn hệ thống PVOIL trên cả nước. Doanh nghiệp ký hợp đồng với Tổng công ty Dầu Việt Nam – CTCP (PVOIL) có thể kiểm soát trực tuyến toàn bộ giao dịch và thanh toán vào cuối kỳ. Tuy nhiên, các sáng kiến như trên còn quá ít ỏi so với tiềm năng phát triển.

Các khó khăn thách thức cơ bản trong quá trình chuyển đổi số của công nghiệp dầu khí Việt Nam
Nhận thức, tư duy về chuyển đổi số của các doanh nghiệp dầu khí chưa thống nhất. Có doanh nghiệp, lĩnh vực đi trước một bước, có doanh nghiệp, lĩnh vực còn chậm thay đổi. Trong khi đó, để tối ưu hóa theo chuỗi, ứng dụng big data trong từng lĩnh vực, đòi hỏi sự thống nhất trong nhận thức và hợp tác chặt chẽ giữa các doanh nghiệp trong chuỗi hay trong cùng 1 khâu của chuỗi giá trị. Nhận thức hạn chế sẽ dẫn tới thiếu sự chuẩn bị nguồn lực cho công cuộc chuyển đổi số.
Mô hình quản trị và các quy trình đi kèm của các doanh nghiệp dầu khí còn lạc hậu, chưa theo kịp thực tiễn tiên tiến trên thế giới. Chuyển đổi số đòi hỏi nền tảng quản trị tiên tiến, đòi hỏi sự chuyển đổi quản trị song song với chuyển đổi số. Nếu không, sẽ chỉ là quá trình số hóa.

Hạ tầng thông tin của các doanh nghiệp dầu khí còn nhỏ lẻ, manh mún, thiếu kết nối. Ngay trong lĩnh vực cốt lõi là thăm dò, khai thác dầu khí, từng nhà điều hành có kho dữ liệu riêng, phần mềm riêng, quy trình vận hành riêng. Nếu hạ tầng thông tin đồng bộ, nền tảng công nghệ tiên tiến sẽ giúp cho quá trình chuyển đổi số nhanh hơn, hiệu quả hơn.
Hành lang pháp lý, chính sách thông tin của Việt Nam trong lĩnh vực dầu khí còn bất cập, chưa theo kịp thực tiễn. Ví dụ, tài liệu thăm dò, khai thác theo quy định chủ yếu là tài liệu mật, do đó không thể lưu trữ, lưu chuyển, xử lý trên nền tảng đám mây, trên hệ thống máy tính kết nối internet.

Đề xuất định hướng chuyển đổi số cho công nghiệp dầu khí Việt Nam
Xuất phát từ phân tích trên, định hướng lớn trong lĩnh vực thăm dò ở Việt Nam là tập trung xây dựng trung tâm dữ liệu thăm dò, khai thác. Trung tâm này cần tích hợp đầy đủ dữ liệu địa chất – địa vật lý, phát triển các công cụ phân tích đặc biệt, ứng dụng trí tuệ nhân tạo, học máy, tối ưu vị trí, đối tượng khoan thăm dò, nhằm giảm thiểu rủi ro [9]. Trong phát triển mỏ, trung tâm dữ liệu này tạo nền tảng tích hợp dữ liệu toàn bể từ các nhà thầu, dự án, nhà điều hành và tiến hành phân tích, tối ưu hóa cho từng chiến dịch khoan.
Đối với tài sản khai thác mới, cần xem xét thiết kế hệ thống cảm biến thu thập đầy đủ thông tin về mỏ và triển khai phân tích. Nếu tài sản cũ, cần phân loại theo khả năng sinh lời. Với mỏ có khả năng mang lại lợi ích cao khi được tối ưu, có thể xem xét hiện đại hóa, lắp đặt thêm cảm biến để thu thập dữ liệu và xử lý.

Dữ liệu thu được trong hơn 30 năm khai thác là khối lượng khổng lồ. Các nhà điều hành tại bể Cửu Long đều có chung vấn đề cần giải quyết: dự báo động thái vỉa dầu trong đá móng, tối ưu bơm ép nước, thổi khí, kéo dài tuổi thọ bơm điện chìm… nhằm gia tăng sản lượng, nâng cao hệ số thu hồi dầu. Ngoài ra, còn có các nhu cầu khác về thiết bị, phụ tùng, dụng cụ thay thế, các dịch vụ hỗ trợ khai thác… Việc tích hợp dữ liệu, chia sẻ bài học kinh nghiệm khi giải quyết các vấn đề chung, sử dụng các thuật toán phân tích hiện đại chạy trên dữ liệu lớn để tìm ra các quy luật tối ưu khai thác, chia sẻ dịch vụ, thiết bị, phụ tùng, dụng cụ thay thế… sẽ mang lại lợi ích to lớn cho các bên tham gia. PVN là đầu mối làm việc với các nhà thầu, khi nhận được sự đồng thuận, các bên có thể đóng góp nguồn lực và ủy quyền cho 1 nhà thầu làm đầu mối triển khai.

Một số ứng dụng chuỗi khối (blockchain), dữ liệu lớn (big data), trí tuệ nhân tạo (AI), học máy (machine learning)… đang được VPI nghiên cứu triển khai vào công tác thăm dò, khai thác dầu khí. Bên cạnh đó, việc nghiên cứu áp dụng phần mềm iNavigator (một dạng AI, trên nền big data, của BBL Venture) nhận dạng và phân tích các điểm nghẽn trong hoạt động, nhằm đưa ra các khuyến nghị cải tiến cho Công ty CP Phân bón Dầu khí Cà Mau (PVCFC) đã được VPI thực hiện. PVN cần tăng cường đặt hàng các nghiên cứu dạng này và quan trọng hơn là thúc đẩy quá trình ứng dụng các kết quả đạt được vào hoạt động thực tiễn của các đơn vị thành viên.

Đối với các nhà máy chế biến dầu khí, điện, có thể lắp đặt thêm cảm biến, đẩy mạnh việc thu thập, phân tích dữ liệu và hỗ trợ điều hành với mục tiêu giảm sự cố, thời gian dừng chờ, tối ưu các chỉ số an toàn và cuối cùng là nâng cao hiệu quả hoạt động. PVN cũng có thể xem xét giải pháp tối ưu hóa việc dùng chung các thiết bị, phụ tùng, dụng cụ thay thế, dự báo và sử dụng các dịch vụ bảo dưỡng sửa chữa trên nền tảng chia sẻ và tích hợp dữ liệu.

Với đặc điểm tích hợp theo chiều dọc, có thể xem xét giải pháp quản lý, tối ưu hóa toàn bộ chuỗi hoạt động dầu khí. Ví dụ, quá trình Liên doanh Việt – Nga “Vietsovpetro”, Công ty Liên doanh Điều hành Cửu Long (CLJOC) khai thác, bán dầu thô cho PVOIL, được Tổng công ty CP Vận tải Dầu khí (PV Trans) vận chuyển đến Nhà máy Lọc dầu Dung Quất có thể đưa vào hệ thống thông tin giúp các bên tham gia tối ưu hóa nguồn lực, giảm thời gian dừng chờ, giảm thời gian vận chuyển, lưu kho.

Công tác nghiên cứu và đào tạo phát triển nguồn nhân lực số phải đi trước một bước. Đại học Dầu khí Việt Nam đang triển khai chương trình đào tạo chuyển đổi nhận thức về quản trị và chuyển đổi số Best-In-Class (BIC), được VPI, Biển Đông POC, Phú Quốc POC tích cực tham gia. Tại VPI đã hình thành nhóm nghiên cứu, chuyên theo dõi và cập nhật các cơ hội phát triển và ứng dụng công nghệ số trong quản lý và sản xuất kinh doanh. Trong công tác quản lý, VPI đang triển khai theo 3 hướng: xây dựng trung tâm dữ liệu thăm dò khai thác, xây dựng hệ thống quản lý tri thức VPI Insights và đưa các công cụ quản lý, chia sẻ lên nền tảng đám mây của Microsoft. Trong nghiên cứu phục vụ sản xuất kinh doanh, VPI đang triển khai theo 3 hướng: phát triển, ứng dụng các thuật toán hiện đại vào phân tích dữ liệu giảm thiểu rủi ro thăm dò; phát triển, ứng dụng các thuật toán hiện đại vào phân tích dữ liệu, tối ưu khai thác; tối ưu hiệu quả hoạt động các nhà máy lọc dầu.