Luật số 71/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật về thuế (Luật thuế 71) quy định phân bón sẽ không phải chịu thuế giá trị gia tăng. Tuy nhiên, chính sách này không đạt hiệu quả như kỳ vọng, do việc không khấu trừ thuế giá trị gia tăng khi mua nguyên/nhiên liệu đầu vào, thiết bị sản xuất đã khiến giá thành sản xuất các loại phân bón trong nước tăng từ 6 – 8%.

Không được khấu trừ VAT đã khiến giá thành sản xuất các loại phân bón trong nước tăng từ 6 – 8%. Ảnh: PVFCCo

Từ sau năm 2015, Tập đoàn Hóa chất Việt Nam không được khấu trừ thuế giá trị gia tăng trung bình khoảng 600 – 800 tỷ đồng/năm. Trong khi đó, 2 đơn vị sản xuất phân bón thuộc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam là Tổng công ty Phân bón và Hóa chất Dầu khí – CTCP (PVFCCo) và Công ty CP Phân bón Dầu khí Cà Mau (PVCFC), mặc dù đã áp dụng các giải pháp để tiết giảm chi phí, con số này dao động trung bình trong khoảng 300 – 400 tỷ đồng/năm. Theo ước tính của PVCFC, nếu mức thuế giá trị gia tăng được áp 5%, đơn vị sẽ giảm được chi phí khoảng 160 tỷ đồng/năm.
Ngoài việc ảnh hưởng về mặt giá thành, Luật thuế 71 cũng khiến các doanh nghiệp sản xuất phân bón sụt giảm sản lượng tiêu thụ do giá thành tăng và phải cạnh tranh với nguồn phân bón nhập khẩu. Năm 2015, kết hợp giữa yếu tố Luật thuế 71 có hiệu lực và một số nhân tố thị trường khác, sản lượng urea của PVFCCo đã giảm 13% so với thời điểm năm trước khi Luật này có hiệu lực.
Trước bất cập đó, ngày 28/10/2020, Chính phủ đã có Nghị quyết số 159/NQ-CP đồng ý với đề xuất của Bộ Tài chính trình Quốc hội xem xét, ban hành chính sách thuế giá trị gia tăng mới cho mặt hàng phân bón. Theo đề xuất, kể từ ngày 1/1/2021, phân bón thuộc nhóm hàng hóa chịu thuế giá trị gia tăng là thuế giá trị gia tăng đầu vào của máy móc, nguyên, nhiên vật liệu, dịch vụ đầu vào dùng trong sản xuất mặt hàng phân bón sẽ được áp dụng chính sách khấu trừ toàn bộ với mức thuế suất 5%.
Việc áp dụng chính sách thuế giá trị gia tăng mới, giá phân bón được áp thuế sẽ có tác động tích cực đối với thị trường, làm lợi cho Nhà nước, xã hội và cho chính doanh nghiệp sản xuất kinh doanh phân bón.
Với doanh nghiệp, các doanh nghiệp sản xuất được khấu trừ tiền thuế giá trị gia tăng (hiện nay các đơn vị sản xuất phân bón thông thường đang chịu thuế giá trị gia tăng đầu vào cho các yếu tố như nguyên liệu khí, điện, than,… với mức thuế suất 10 đến 15% nên việc áp thuế đầu ra 5% sẽ được hoàn lại), từ đó tạo điều kiện để các doanh nghiệp sản xuất phân bón giảm giá thành sản xuất; cạnh tranh được với sản phẩm nhập khẩu (do các sản phẩm nhập khẩu hiện nay đang hưởng thuế suất nhập khẩu 0%); có thể hoạt động ổn định trong điều kiện có biến động bất thường về thị trường, chi phí nguyên liệu. Bên cạnh đó, quy mô sản xuất các loại phân bón nội địa (urea, DAP, NPK, …) chỉ đáp ứng khoảng 70% nhu cầu thị trường trong nước trong khi năng lực sản xuất trong nước hiện vẫn chưa khai thác tối đa. Do đó, áp thuế giá trị gia tăng cho phân bón sẽ khuyến khích các doanh nghiệp trong nước có thêm nguồn lực đầu tư mở rộng sản xuất, phát triển sản phẩm mới, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm để đem lại lợi ích cao hơn cho người nông dân.
Với Nhà nước, áp dụng chính sách thuế giá trị gia tăng mới đối với phân bón sẽ giúp tăng thu ngân sách. Theo tính toán sơ bộ, với kim ngạch nhập khẩu thuộc đối tượng không chịu thuế khoảng hơn 1 tỷ USD như hiện nay, mỗi năm ngân sách Nhà nước sẽ được bổ sung thêm hàng nghìn tỷ đồng. Cùng với đó, trong năm qua ngành nông nghiệp Việt Nam cũng chịu ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 khiến tình hình sản xuất, xuất khẩu nông sản gặp nhiều khó khăn. Việc điều chỉnh thuế có thể coi là một công cụ điều tiết vĩ mô quan trọng của Nhà nước giúp hỗ trợ các doanh nghiệp sản xuất phân bón và ngành nông nghiệp có thể phục hồi, tăng tốc trở lại sau giai đoạn khó khăn do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19.
Với xã hội, việc áp dụng chính sách thuế giá trị gia tăng mới sẽ thúc đẩy phát triển các hoạt động phụ trợ khi sản xuất phân bón mở rộng như logistics, bao bì, phân phối… Người nông dân sẽ có cơ hội được sử dụng phân bón chất lượng cao, nhiều chủng loại sản phẩm tốt hơn, qua đó, góp phần hỗ trợ nền nông nghiệp Việt Nam phát triển bền vững, nâng cao chất lượng sản xuất, gia tăng giá trị hàng hóa và khả năng cạnh tranh của nông sản, vừa đảm bảo nhu cầu lương thực/nông sản trong nước vừa đẩy mạnh xuất khẩu cũng như giải quyết các vấn đề an sinh xã hội như tạo thêm cơ hội việc làm, tăng trưởng thu nhập cho nông dân/người lao động.

Đoàn Tiến Quyết (VPI)

Nhân dịp đất nước, dân tộc vui đón mùa xuân mới – Xuân Tân Sửu 2021, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐTV Tập đoàn Dầu khí Việt Nam Hoàng Quốc Vượng đã gửi Thư chúc mừng đến toàn thể cán bộ, đảng viên, công nhân viên lao động Dầu khí đã và đang hết lòng cống hiến sức lực, đóng góp trí tuệ trên những dự án, công trình ở khắp mọi miền Tổ quốc và ở nước ngoài.

Lãnh đạo Tập đoàn Dầu khí Việt Nam tặng quà cho cán bộ, kỹ sư, người lao động đang làm việc trên mỏ Đại Hùng

Nhân dịp đất nước, dân tộc vui đón mùa xuân mới – Xuân Tân Sửu 2021, thay mặt Đảng ủy, lãnh đạo Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam, tôi xin gửi những lời chúc mừng tốt đẹp nhất đến toàn thể cán bộ, đảng viên, công nhân viên lao động Dầu khí đã và đang hết lòng cống hiến sức lực, đóng góp trí tuệ trên những dự án, công trình ở khắp mọi miền Tổ quốc và ở nước ngoài.
Năm 2020, đại dịch Covid-19 và giá dầu giảm sâu đã gây ra một cú sốc lớn, làm kinh tế thế giới và thương mại toàn cầu suy thoái nghiêm trọng, hàng loạt các tập đoàn, công ty Dầu khí lớn trên thế giới thua lỗ, phá sản, sa thải nhân công. Tập đoàn Dầu khí của chúng ta phải đối diện với những thách thức, khó khăn nhất trong lịch sử xây dựng và phát triển.
Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, sự chỉ đạo sâu sát của Chính phủ, sự hỗ trợ, giúp đỡ hiệu quả của các Bộ, Ban, ngành Trung ương, các địa phương, các đối tác và nhân dân cả nước; với quyết tâm lấy lại niềm tin của xã hội và trong chính những người lao động dầu khí; Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam đã kịp thời xây dựng và triển khai hiệu quả Gói giải pháp ứng phó với tác động kép của đại dịch Covid-19 và giá dầu giảm sâu. Với ý chí và quyết tâm cao nhất, Tập đoàn đã cơ bản hoàn thành toàn diện, vượt mức nhiều nhiệm vụ, chỉ tiêu kế hoạch quan trọng; góp phần bảo đảm an ninh năng lượng, an ninh lương thực, an ninh kinh tế và an ninh quốc gia trên biển. Kết quả đó là biểu hiện sinh động của ý chí, nghị lực, trí tuệ, trách nhiệm của người Dầu khí với Đảng, với đất nước, với nhân dân.
Thay mặt Đảng ủy, lãnh đạo Tập đoàn, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến toàn thể cán bộ, đảng viên, công nhân viên, người lao động Dầu khí vì những đóng góp to lớn và ý nghĩa cho sự phát triển bền vững của Tập đoàn, góp phần quan trọng giữ vững ổn định và phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.
Năm 2021, dịch bệnh Covid-19 từng bước được kiểm soát những sẽ vẫn gây ảnh hưởng tiêu cực tới nền kinh tế thế giới và trong nước; giá dầu thô và sản phẩm lọc hóa dầu được dự báo vẫn diễn biến khó lường và duy trì ở mức thấp trong khi nhu cầu tiêu thụ phục hồi chậm; nhiều hạn chế, khó khăn từ những năm trước đây vẫn là bài toán đặt ra, cần tháo gỡ. Các yếu tố này sẽ tiếp tục thử thách ý chí và nghị lực của những “người đi tìm lửa”. Song, chúng ta có quyền tự hào với truyền thống 60 năm kiên trì, nỗ lực thực hiện mong ước của Bác Hồ, tự tin với kinh nghiệm, thành công vượt khủng hoảng kép năm 2020; trong hoàn cảnh bất thường, càng khó khăn càng tỏ rõ bản lĩnh, trí tuệ của người Dầu khí. Tôi tin rằng, với tinh thần hành động: “Đoàn kết – Bản lĩnh – Trách nhiệm – Đổi mới”, với phương châm: “Quản trị biến động, tối đa giá trị, mở rộng thị trường, tận dụng cơ hội, liên kết đầu tư, phục hồi tăng trưởng”, chắc chắn Tập đoàn chúng ta sẽ vượt qua thách thức, tiếp tục hoàn thành và hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu, nhiệm vụ được giao, xứng đáng với trọng trách được Đảng, Nhà nước, nhân dân và các thế hệ người dầu khí giao phó.
Mừng Xuân dân tộc, mừng Đảng quang vinh, thay mặt Đảng ủy, lãnh đạo Tập đoàn, tôi xin chúc toàn thể cán bộ, đảng viên và người lao động đã và đang công tác trong ngành Dầu khí cùng gia đình năm mới sức khỏe, an lành, hạnh phúc và gặt hái nhiều thành công mới!
Chúc Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam Anh hùng tiếp tục lập nên nhiều thắng lợi mới, to lớn và toàn diện hơn nữa.

Tổng giám đốc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam Lê Mạnh Hùng cho biết Tập đoàn sẽ bám sát diễn biến thị trường, cập nhật, hoàn thiện “Gói giải pháp ứng phó với hậu Covid-19” phù hợp với diễn biến dịch bệnh, giá dầu, cung – cầu dầu thô, khí đốt, sản phẩm lọc dầu, hóa dầu… thực hiện thành công các mục tiêu, nhiệm vụ được giao năm 2021, tạo tiền đề, cơ sở vững chắc thực hiện thắng lợi kế hoạch 5 năm 2021 – 2025, góp phần cùng cả nước thực hiện thành công, hiệu quả “mục tiêu kép” vừa phòng chống dịch bệnh, vừa phục hồi và phát triển kinh tế – xã hội trong trạng thái bình thường mới.

Với phương châm hành động “Quản trị biến động, Tối đa giá trị, Mở rộng thị trường, Tận dụng cơ hội, Liên kết đầu tư, Phục hồi tăng trưởng”, Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam đặt mục tiêu năm 2021: Gia tăng trữ lượng dầu khí 13 – 18 triệu tấn; khai thác 9,72 triệu tấn dầu và 9,76 tỷ m3 khí; sản xuất 1,62 triệu tấn đạm, 22,7 tỷ kWh điện và 6,37 triệu tấn xăng dầu. Để thực hiện thành công các chỉ tiêu kế hoạch năm 2021, Tổng giám đốc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam cho biết sẽ tập trung triển khai thực hiện đồng bộ, linh hoạt 5 nhóm giải pháp trọng tâm, tổng thể gồm: (1) Nhóm giải pháp về quản trị; (2) Nhóm giải pháp về tài chính; (3) Nhóm giải pháp về đầu tư; (4) Nhóm giải pháp về thị trường và (5) Nhóm giải pháp về cơ chế chính sách.
Trong đó, Tập đoàn tiếp tục tập trung đổi mới nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp mà trước hết là tiếp tục nâng cao công tác quản trị, quản lý doanh nghiệp từ Công ty mẹ đến từng đơn vị thành viên; xây dựng phương án số hóa toàn diện cơ sở dữ liệu để ứng dụng quản trị trên nền tảng số; triển khai ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin nhằm tiết giảm chi phí quản lý, vận hành.
Bám sát diễn biến thị trường, cập nhật, hoàn thiện “Gói giải pháp ứng phó với hậu Covid-19” phù hợp với diễn biến dịch bệnh, giá dầu, cung cầu dầu thô, khí đốt, sản phẩm lọc dầu, hóa dầu… trong từng thời điểm của 2021. Tiếp tục rà soát chi phí để tối ưu, tiết giảm chi phí vận hành, cân đối sản lượng giữa các mỏ sẵn sàng ứng phó với kịch bản giá dầu thấp hơn dự kiến. Đẩy mạnh hoạt động thăm dò để gia tăng trữ lượng dầu khí, tận dụng cơ hội thời điểm giá dịch vụ thấp.
Tổng giám đốc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam cho biết sẽ tập trung xây dựng, quản trị danh mục đầu tư, tập trung thực hiện các giải pháp thúc đẩy tiến độ các dự án trọng điểm: Chuỗi dự án Lô B, Cá Voi Xanh, LNG Thị Vải, LGP Sơn Mỹ, Dự án nâng cấp mở rộng công suất Nhà máy Lọc dầu Dung Quất, các dự án nhiệt điện Sông Hậu 1, Thái Bình 2… ; tổ chức triển khai thực hiện Đề án tái cấu trúc toàn diện PVN giai đoạn 2021 – 2025 ngay sau khi được cấp thẩm quyền phê duyệt.
Lãnh đạo Tập đoàn Dầu khí Việt Nam yêu cầu cán bộ, đảng viên, người lao động Dầu khí “bằng hành động thiết thực; tiếp tục giữ vững niềm tin, nỗ lực nhiều hơn nữa, nâng cao tinh thần trách nhiệm cao hơn nữa trong từng hành động dù là nhỏ nhất, tận dụng tốt mọi thời cơ, vượt qua mọi khó khăn, thách thức, ra sức thi đua tổ chức thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó. Toàn Tập đoàn vững tin khẳng định: luôn xứng đáng là trụ cột của nền kinh tế đất nước, có nhiều đóng góp quan trọng cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước”.

Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc yêu cầu Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam phải tập trung tái cấu trúc mạnh mô hình quản lý để đảm bảo tinh gọn, hiệu quả hơn, tập trung được nguồn lực hơn.

Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc nghe lãnh đạo Tập đoàn Dầu khí Việt Nam báo cáo về tình hình triển khai các dự án dầu khí. Ảnh: VGP

Tại Hội nghị tổng kết công tác năm 2020 và triển khai nhiệm vụ năm 2021 của Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc chúc mừng tập thể lãnh đạo, cán bộ, người lao động Dầu khí về những kết quả vượt bậc đạt được trong năm qua, thể hiện ý chí, khát vọng và tinh thần Việt Nam, truyền thống, tinh thần đoàn kết, ý chí quyết tâm vượt qua khó khăn, thách thức của “những người đi tìm lửa” vốn đã được hình thành, tôi luyện qua nhiều thế hệ, nay lại càng được khẳng định và phát huy ở tầm cao mới, rất kịp thời, đúng thời điểm.
Gần 60.000 cán bộ, công nhân viên, kỹ sư đã làm việc ngày đêm, tâm huyết, trách nhiệm. Tập đoàn Dầu khí Việt Nam đã trở thành một tập đoàn dầu khí lớn mạnh với nhiều nhà máy, công trình dầu khí quan trọng quốc gia, sở hữu khối tài sản Nhà nước có giá trị trên 35 tỷ USD.
Chia sẻ về các điểm sáng, ấn tượng của Petrovietnam, Thủ tướng cho rằng, trong bối cảnh khó khăn, Tập đoàn đã thăm dò, gia tăng trữ lượng, đạt kết quả tốt, đặc biệt đã phát hiện mỏ Kèn Bầu cùng với mỏ Cá Voi Xanh, bảo đảm cung cấp khí đốt cho nhu cầu công nghiệp, dân dụng của các tỉnh miền Trung, trọng tâm là các nhà máy điện trong thời gian dài.
Các đơn vị thành viên, từ chỗ bị động, khó khăn, nay lấy lại được đà tăng trưởng mới. Petrovietnam đã nộp ngân sách Nhà nước 83.000 tỷ đồng, đứng thứ 2 trong các tập đoàn, tổng công ty Nhà nước đóng góp cho ngân sách.
Thủ tướng Chính phủ khẳng định, Petrovietnam đã vượt qua giai đoạn khó khăn nhất, vượt qua sự ảnh hưởng trực tiếp, nặng nề nhất của “tác động kép” do đại dịch Covid-19 và giá dầu giảm sâu trong thời gian qua, đã thực sự thực hiện được lời nhắn nhủ của Thủ tướng Chính phủ khi làm việc với Tập đoàn năm 2018: “Trong khó khăn càng phải vững vàng, bằng bản lĩnh để vượt qua thử thách”.
Nhấn mạnh vai trò của của tập thể đối với sự phát triển, Thủ tướng Chính phủ đề nghị Bộ Công Thương chủ trì phối hợp với các bộ, ngành và Petrovietnam xây dựng trình Quốc hội sớm ban hành Luật Dầu khí mới trong năm 2021 theo chương trình xây dựng pháp luật đã được Chính phủ báo cáo Quốc hội. Bộ Tài chính, Ủy ban Quản lý vốn Nhà nước tại Doanh nghiệp sớm hoàn thiện để trình Thủ tướng ban hành cơ chế tài chính của Công ty mẹ – Tập đoàn Dầu khí Việt Nam.
Giao nhiệm vụ cho Tập đoàn, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu, trước hết tiếp tục xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh, trong đó gắn liền công tác chính trị, tư tưởng với công tác cán bộ, toàn Đảng bộ có sức sống mới, vượt qua khó khăn. Đánh giá, bố trí cán bộ cho đúng để phát huy sở trường.
Cần phát huy tối đa nguồn lực, kinh nghiệm và quan hệ của một doanh nghiệp có vai trò đầu tàu của nền kinh tế, trở thành đơn vị kiểu mẫu trong việc hội nhập sâu rộng với nền kinh tế khu vực và thế giới. Thủ tướng Chính phủ đánh giá cao giải pháp của Tập đoàn trong năm 2021: “Quản trị biến động – Tối ưu giá trị – Mở rộng thị trường – Tận dụng cơ hội – Liên kết đầu tư – Phục hồi tăng trưởng”.
Là doanh nghiệp sở hữu chuỗi giá trị có ảnh hưởng quyết định đến tổng thể nền kinh tế và an ninh năng lượng, là tập đoàn nắm giữ từ khâu thăm dò, khai thác, chế biến, phân phối và sản xuất sản phẩm cuối cùng là xăng dầu, điện, hạt nhựa, đạm… Petrovietnam có điều kiện thuận lợi để tạo ra những sản phẩm có thương hiệu mạnh về chất lượng và sức cạnh tranh cao.
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Petrovietnam phải khắc phục cho được các tồn tại, trước hết là việc xử lý 5/12 dự án còn chậm, chưa chuyển biến, chưa có giải pháp đột phá; đẩy mạnh việc triển khai các dự án nhóm A còn chậm trễ. Tập đoàn cũng cần tập trung giải quyết tình trạng cồng kềnh trong bộ máy, còn có đơn vị hoạt động chưa hiệu quả.
Phải tập trung tái cấu trúc mạnh mô hình quản lý để đảm bảo tinh gọn, hiệu quả hơn, tập trung được nguồn lực hơn. Theo đó, cần khẩn trương xem xét lại mô hình hoạt động của một số đơn vị thành viên, tránh trùng lặp giữa các đơn vị, hiệu quả kém.
“Việc tái cấu trúc đụng đến con người, bộ máy, cho nên phải có phương án cụ thể, chặt chẽ”, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu trong toàn Tập đoàn phải tạo ra không khí làm việc mới, đặc biệt sử dụng cán bộ công tâm, đúng người, đúng việc. “Làm sao thu hút nhân tài, những người giỏi về đây”. Phải cải cách để có đầu mối mạnh hơn nhằm phát huy sức mạnh và có khả năng cạnh tranh với các công ty đa quốc gia; tập trung cao cho nghiên cứu, áp dụng công nghệ khoa học mới vào sản xuất kinh doanh.
Thủ tướng Chính phủ mong muốn Petrovietnam tiếp tục phát huy truyền thống và thành công của năm 2020 để có bước phát triển mới, xứng đáng với niềm tin yêu của Đảng, Nhà nước và nhân dân.

Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐTV Tập đoàn Dầu khí Việt Nam Hoàng Quốc Vượng cho rằng việc hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch năm 2021 có ý nghĩa quan trọng, tạo niềm tin, khí thế cho toàn Tập đoàn khi bước vào giai đoạn phát triển mới.

Thực hiện kế hoạch 2021, bên cạnh những cơ hội là thách thức lớn: Dịch bệnh Covid-19 tiếp tục tác động, ảnh hưởng tiêu cực tới hoạt động của Tập đoàn (thị trường dầu khí, sản xuất, kinh doanh và công tác đầu tư của Tập đoàn). Xu thế chuyển dịch năng lượng từ năng lượng hóa thạch sang năng lượng tái tạo tiếp tục diễn ra mạnh mẽ, tác động trực tiếp và tiêu cực tới hoạt động dầu khí. Giá dầu khí mặc dù đã tăng lên trong những ngày vừa qua nhưng khó có thể tăng cao trong năm 2021. Tình hình Biển Đông vẫn tiếp tục diễn biến phức tạp, ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động tìm kiếm thăm dò và khai thác dầu khí của Tập đoàn. Việc điều chỉnh khuôn khổ pháp lý cho hoạt động dầu khí (Luật Dầu khí, quy chế tài chính…) cho phù hợp với thực tiễn ngành Dầu khí Việt Nam hiện nay cần nhiều thời gian.

Bên cạnh những khó khăn mang tính vĩ mô trên, những khó khăn nội tại của Tập đoàn cũng không hề nhỏ: Giá dầu giảm sâu dẫn đến nguồn thu của Tập đoàn suy giảm mạnh (lợi nhuận hợp nhất năm 2020 giảm trên 63% so với năm 2019), ảnh hưởng rất lớn đến nguồn lực của Tập đoàn để thực hiện các mục tiêu, kế hoạch trung hạn, dài hạn và chiến lược phát triển của Tập đoàn trong những năm tới. Các khó khăn, vướng mắc tại các dự án đầu tư lớn của Tập đoàn như: Thái Bình 2, Long Phú 1, các dự án ethanol… vẫn chưa được giải quyết căn bản, tiếp tục tác động, ảnh hưởng tiêu cực tới hoạt động của Tập đoàn. Việc thực hiện các cam kết chính phủ cho các dự án dầu khí trọng điểm tiếp tục tạo áp lực cho hoạt động cũng như tình hình tài chính của Tập đoàn.

Kế thừa những kết quả quan trọng, toàn diện đã đạt được trong năm 2020, phát huy tinh thần đoàn kết, quyết tâm vượt qua khó khăn, thách thức, tận dụng tốt thời cơ để nỗ lực phấn đấu hoàn thành vượt mức các nhiệm vụ, mục tiêu, chỉ tiêu kế hoạch năm 2021, toàn Tập đoàn cần thể hiện tinh thần, khát vọng phát triển “chủ động, tích cực hơn, năng động, sáng tạo hơn, đạt được kết quả tổng thể cao trong năm 2021” với phương châm hành động “Bản lĩnh, trách nhiệm, đoàn kết, đổi mới”; triển khai ngay các nhiệm vụ trọng tâm trong năm 2021.

Chủ tịch HĐTV Tập đoàn Dầu khí Việt Nam yêu cầu tiếp tục rà soát chiến lược phát triển đơn vị trong 10 năm tới, kế hoạch phát triển 5 năm có tính tới tác động sâu rộng của xu hướng chuyển dịch năng lượng; tác động của cách mạng công nghiệp 4.0 để có định hướng lớn trong sản xuất, kinh doanh của Tập đoàn, của đơn vị. Quan tâm hơn nữa tới công tác dự báo thị trường, các vấn đề kinh tế – chính trị trong năm 2021 để đưa ra các kịch bản ứng phó và có phương hướng quản trị phù hợp; nghiên cứu và tìm kiếm các cơ hội đầu tư mới, các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh mới, sản phẩm mới phù hợp với năng lực, tiềm năng, thế mạnh của Tập đoàn.

Chủ tịch HĐTV Tập đoàn Dầu khí Việt Nam yêu cầu tạo dựng mối liên kết hiệu quả giữa các đơn vị trong chuỗi giá trị để phát huy các nguồn lực trong Tập đoàn, nhằm phát huy nội lực, nâng cao khả năng cạnh tranh. Tiếp tục thực hiện tái cấu trúc các đơn vị hướng tới mục tiêu giảm giá thành sản phẩm, phản ứng nhanh, kịp thời với những biến động của thị trường; nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh; đảm bảo lợi ích của người lao động. Nâng cao chất lượng quản lý, quản trị doanh nghiệp, nâng cao tinh thần trách nhiệm, dám nghĩ, dám làm, đổi mới, sáng tạo (vốn một thời là giá trị văn hóa của người dầu khí), tất cả vì sự phát triển của đơn vị, của Tập đoàn. Ưu tiên nguồn lực để giải quyết các khó khăn, vướng mắc tại các dự án đầu tư của Tập đoàn; nâng cao năng lực đầu tư xây dựng, đẩy nhanh tiến độ các dự án đầu tư xây dựng của Tập đoàn: các dự án điện, các dự án dầu khí trọng điểm…

Trong thời đại công nghệ số, thông tin và tri thức là tài sản quý giá nhất đối với các doanh nghiệp, với mục tiêu thu thập và tổng hợp tối đa thông tin/tri thức, phân tích và xử lý toàn diện để thấu hiểu bản chất và sử dụng hiệu quả để tạo lợi thế cạnh tranh. Vì thế, bảo mật thông tin/dữ liệu là vấn đề sống còn đối với doanh nghiệp, khi mô hình làm việc từ xa ngày càng được ứng dụng rộng rãi. Tiến sĩ Vũ Ngọc Trình – Trưởng Ban Công nghệ Thông tin Viện Dầu khí Việt Nam (VPI) trao đổi về vấn đề này.

PV: Xin ông cho biết cách mạng công nghiệp 4.0 đã và đang tạo ra sự thay đổi như thế nào đối với các doanh nghiệp dầu khí?
TS. Vũ Ngọc Trình: Cách mạng công nghiệp 4.0 đã và đang tạo ra sự thay đổi cơ bản, vượt bậc về công nghệ trong việc thu thập thông tin (cảm biến thông tin ngày càng rẻ, kết nối di động đã rộng rãi và phổ biến) và phân tích và xử lý thông tin/tri thức để thấu hiểu bản chất (sức mạnh xử lý, lưu trữ, tăng mạnh; nền tảng công nghệ trí tuệ nhân tạo, học máy phát triển nhanh) để từ đó các doanh nghiệp có thể ra quyết định sản xuất kinh doanh hàng ngày hoặc hoạch định chiến lược, kế hoạch dài hạn hiệu quả hơn.
Theo McKinsey, 60 – 90% hoạt động hàng ngày của ngành dầu khí có thể được hỗ trợ bởi AI và học máy. Ứng dụng của trí tuệ nhân tạo vượt xa giới hạn “cải thiện nhanh hơn và tốt hơn” các quy trình công việc. Từ các hoạt động thăm dò ban đầu cho đến việc đưa sản phẩm đến người dùng cuối, AI mở ra các phương pháp mới để thăm dò, phát triển, sản xuất, vận chuyển, chế biến và kinh doanh dầu khí.
Theo Bain & Company, các công ty dầu khí có thể cải thiện hiệu suất từ 6 – 8% với việc tối ưu hóa dữ liệu. Việc số hóa hoạt động tại các hoạt động hạ nguồn dầu khí có thể giúp tiết giảm 12 – 20% chi phí hoạt động, dừng hoạt động đột xuất giảm từ 15 – 25%, hiệu quả hoạt động tăng 8 – 12%, hiệu suất HSSE (sức khỏe, an toàn, an ninh và môi trường) được cải thiện, tăng năng suất lao động.
Ví dụ ExxonMobil hợp tác với MIT để thiết kế robot AI thám hiểm đại dương nhằm phát hiện rò rỉ dầu khí dưới đáy đại dương. Chevron và Microsoft hợp tác phát triển giải pháp DELFI, nền tảng trí tuệ nhân tạo dựa trên công nghệ điện toán đám mây, giúp nâng cao các dịch vụ kỹ thuật số trong các dự án thăm dò, phát triển, khai thác mỏ, tồn trữ và hệ thống các đường ống dầu khí. Total hợp tác với Google Cloud phát triển hệ thống AI để phân tích dữ liệu dưới bề mặt nhằm cải thiện các quy trình thăm dò khai thác…

PV: VPI đang triển khai các nghiên cứu và ứng dụng công nghệ 4.0 trong công nghiệp dầu khí như thế nào, thưa ông?
TS. Vũ Ngọc Trình: VPI đang nghiên cứu xây dựng chiến lược, chương trình chuyển đổi số và hoàn thiện hệ thống quản trị dựa trên nền tảng công nghệ số (cloud, block chain, AI, WebGIS…); ứng dụng big data, AI, block chain,… trong xử lý, phân tích tài liệu địa chất, địa vật lý, xây dựng mô hình địa chất nhằm nâng cao hiệu quả công tác tìm kiếm thăm dò dầu khí; nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật số nhằm đánh giá và hoàn thiện công nghệ khai thác và nâng cao hệ số thu hồi dầu khí; ứng dụng công nghệ số/công nghệ 4.0 trong vận hành các nhà máy chế biến dầu khí; xây dựng các phần mềm/giải pháp an ninh bảo mật thông tin/dữ liệu (như công nghệ watermarking)…

PV: Trong thời đại công nghệ số, thông tin và tri thức là tài sản quý giá nhất đối với các doanh nghiệp, vậy doanh nghiệp cần bảo mật thông tin/dữ liệu như thế nào?
TS. Vũ Ngọc Trình: Mọi doanh nghiệp ứng dụng công nghệ thông tin và sử dụng internet trong hoạt động kinh doanh đều có nguy cơ bị đánh cắp dữ liệu, có thể dẫn đến hậu quả nghiêm trọng. Về bảo mật dữ liệu, các doanh nghiệp cần tập trung vào giải pháp an ninh, bảo mật như: quản lý người dùng tốt, xác thực nhiều yếu tố, mã hóa/giải mã, kiểm soát thiết bị đầu vào đầu ra, cập nhật bản vá lỗi phần mềm…
Công nghệ watermarking chủ yếu được dùng để bảo mật thông tin số (bản quyền và tình báo), trong thời đại 4.0, watermarking được sử dụng nhiều trong bảo vệ bản quyền các tài sản trí tuệ/tài sản số/dữ liệu số.
VPI vừa hoàn thành việc xây dựng phần mềm xác định nguồn gốc tập tin (file) dữ liệu định dạng pdf sử dụng công nghệ watermarking giúp quản lý việc download các tài liệu/dữ liệu định dạng pdf, sau đó sẽ áp dụng cho các dạng dữ liệu/tài liệu khác.

PV: Ông có thể chia sẻ cụ thể hơn việc sử dụng công nghệ watermarking trong bảo mật thông tin/dữ liệu mà VPI mới thực hiện thành công?
TS. Vũ Ngọc Trình: Sản phẩm này đã được tích hợp vào phần mềm quản lý văn bản điện tử online VPIOffice của VPI để quản lý việc sử dụng tài liệu đúng người dùng, đúng mục đích. Sản phẩm có các tính năng chính như: Lưu trữ, quản lý các file pdf; cho phép chèn thêm một/nhiều dấu hiện nhận biết vào file pdf; cho phép quản lý thông tin người dùng (họ và tên, username, ngày giờ download, chỉ IP/MAC…); cho phép truy vết nguồn gốc file và truy vết nguồn gốc người sử dụng (ai tải lên, ngày giờ tải lên; ai tải xuống, ngày giờ tải xuống); cho phép tìm kiếm theo các tiêu chí khác nhau (theo tên file, theo người sử dụng, theo các chức năng truy vết: người tải lên, ngày giờ tải lên, người tải xuống, ngày giờ tải xuống); cho phép thống kê và vẽ biểu đồ theo nhiều tiêu chí khác nhau (theo tài liệu và theo người dùng)…

PV: Sản phẩm do VPI thực hiện có tính năng gì mới so với công nghệ watermarking mà thế giới đã thực hiện, thưa ông?
TS. Vũ Ngọc Trình: Tập tin định dạng pdf có cấu trúc gồm nhiều lớp thông tin, thông thường sẽ được chèn một lượng nhỏ thông tin đã mã hóa (watermarked) vào một trong số các lớp thông tin của tập tin pdf. Tuy nhiên, với cách làm này, một số công cụ có thể tách lớp thông tin để xóa đi thông tin mã hóa watermark trong tập tin pdf.
Dựa trên công nghệ watermarking mới nhất của thế giới, VPI đã cải tiến thuật toán và đưa vào các giải pháp mới để nâng cao tính bảo mật và rất khó để có thể bẻ khóa được tập tin pdf khi đã được nhúng thông tin mã hóa (watermarked). VPI đã chuyển nội dung của tập tin pdf thành định dạng ảnh, sau đó nhúng thông tin mã hóa watermark vào trong tập tin ảnh, tiếp theo chuyển ngược từ định dạng ảnh sang định dạng pdf. Với cách làm này, tính bảo mật được nâng cao rõ rệt.
Được biết, một tập đoàn hàng đầu Việt Nam đã và đang sử dụng watermark trong quản lý các tài liệu định dạng pdf. Tôi không biết cụ thể doanh nghiệp này dùng thuật toán/phương pháp watermarking nào. Tuy nhiên khi kiểm tra mức độ an ninh bảo mật, một số công cụ có thể tách/xóa được thông tin watermark nhúng trong file pdf của doanh nghiệp này nhưng không thể tách/xóa được các lớp thông tin watermark nhúng trong tập tin pdf của VPI. Tôi cho rằng đây là một trong những điểm mới và khác biệt chính của sản phẩm do VPI thực hiện.

PV: Theo ông, các doanh nghiệp cần thực hiện các giải pháp gì để “nắm bắt” thời cơ từ cuộc cách mạng công nghiệp 4.0?
TS. Vũ Ngọc Trình: Theo tôi, các doanh nghiệp cấp thiết phải chuyển đổi từ hoạt động theo mệnh lệnh hành chính theo kiểu quản lý nhà nước sang hoạt động dựa vào thông tin, ra quyết định dựa trên thông tin (data-driven) rồi phát triển đến mức cao hơn là mọi quyết định đều phải dựa trên sự thấu hiểu bản chất thông tin (insights-driven). Xây dựng mô hình quản trị doanh nghiệp thông minh tại các đơn vị, sử dụng “dữ liệu lớn” về sản xuất kinh doanh và dịch vụ nhằm hỗ trợ các cấp lãnh đạo trong việc ra quyết định. Tăng cường đầu tư cảm biến và thiết bị IoT để thu thập dữ liệu trong toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh hàng ngày; xây dựng cơ sở dữ liệu trong tất cả các khâu thuộc chuỗi giá trị dầu khí. Đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng trí tuệ nhân tạo, học máy để phân tích, xử lý và thấu hiểu dữ liệu từ đó tìm ra các quy luật, tri thức và ứng dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh; trước mắt có thể ưu tiên ứng dụng AI cho dự báo trong bảo dưỡng thiết bị (predictive maintenance). Hiện nay, các sản phẩm đa số dựa trên nền tảng internet, nhưng kỷ nguyên tiếp theo sẽ là dựa trên nền tảng của công nghệ blockchain. Do đó, tìm hiểu, nghiên cứu và ứng dụng công nghệ blockchain ngay từ bây giờ là việc các doanh nghiệp cần làm. Đặc biệt, trong các giải pháp, cần chú trọng bảo mật thông tin/dữ liệu để sử dụng an toàn, hiệu quả.

PV: Trân trọng cảm ơn ông./.

Trong Báo cáo “Triển vọng năng lượng ngắn hạn” (STEO), Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA) dự báo giá dầu Brent giao ngay sẽ đạt mức trung bình 53 USD/thùng trong cả năm 2021 và 2022, tăng 11 USD/thùng so với mức giá trung bình năm 2020 (42 USD/thùng). EIA dự báo giá dầu WTI sẽ thấp hơn trung bình khoảng 3 USD/thùng so với giá dầu Brent vào năm 2021 và thấp hơn 4 USD/thùng so với giá Brent vào năm 2022.

TS. Nguyễn Hồng Minh – chuyên gia của Viện Dầu khí Việt Nam (VPI) đã phân tích mô hình chuyển đổi số trong lĩnh vực thăm dò, khai thác dầu khí của Deloitte (Deloitte’s Digital Operations Transformation); thực trạng chuyển đổi điều hành số và chuyển đổi số trong quan hệ với khách hàng; các khó khăn thách thức cơ bản trong quá trình chuyển đổi số và đề xuất các giải pháp chuyển đổi số cho ngành công nghiệp dầu khí Việt Nam.

Trong bài báo “Chuyển đổi số trong công nghiệp dầu khí: Thực trạng và triển vọng tại Việt Nam” đăng trên Tạp chí Dầu khí, TS. Nguyễn Hồng Minh cho rằng nếu số hóa (digitalization) là quá trình chuyển đổi các hệ thống thường sang hệ thống kỹ thuật số thì chuyển đổi số (digital transformation) nhằm khai thác các dữ liệu có được từ quá trình số hóa, rồi áp dụng các công nghệ để phân tích, biến đổi các dữ liệu đó và tạo ra các giá trị mới. Như vậy, mục tiêu chuyển đổi số là phải tạo ra các giá trị gia tăng mới, sản phẩm, dịch vụ mới, cách làm mới mà cuối cùng phải giúp cho việc kinh doanh hiệu quả hơn.

Trong Báo cáo của Deloitte [2], mô hình chuyển đổi điều hành số (Deloitte’s Digital Operations Transformation (DOT)) là lộ trình chuyển đổi số gồm 3 giai đoạn: Chuyển thế giới vật lý thành thế giới số (physical to digital), xử lý thế giới số (digital to digital) và chuyển thông tin điều hành từ thế giới số về thế giới vật lý (digital to physical). 3 giai đoạn này còn được chia thành 10 bước. Giai đoạn 1: Cơ khí hóa (mechanize), Cảm biến hóa (sensorize), truyền dữ liệu (transmit). Giai đoạn 2: Tích hợp (integrate), phân tích (analyze), hình ảnh hóa (visualize), tăng cường thực tế (augment). Giai đoạn 3: Robot hóa (robotize), nhúng sản phẩm mới vào hệ thống (craft) và ảo hóa toàn bộ tài sản (virtualize).

Hành trình đó được tiến hành như những vòng lặp. Sau khi áp dụng 10 bước cho một đối tượng hay tài sản cụ thể, doanh nghiệp quay trở lại áp dụng lần lượt cho cả hệ thống gồm nhiều tài sản và cuối cùng triển khai cho cả hệ sinh thái, gồm cả nhà cung cấp và khách hàng. Như vậy, ngay cả 10 bước trên cũng tiến hóa cùng với toàn bộ hệ thống và toàn hệ sinh thái, trong đó trung tâm là hệ thống an ninh. Toàn bộ quá trình chuyển đổi đó tiến hóa, nhưng xoay quanh cốt lõi là văn hóa hay bản sắc số, mà Deloitte gọi gen số của doanh nghiệp (Digital DNA). Mỗi bước tiến hóa là sự thay đổi về chất, đưa toàn bộ hệ sinh thái lên trình độ cao hơn, nhưng cơ bản các bước chuyển đổi vẫn như vậy (Hình 1). Đây được gọi là quá trình tiến hóa số của doanh nghiệp.

Hành trình 3 giai đoạn và 10 bước chuyển đổi số mang tính tổng quát cho các ngành công nghiệp khác nhau. Doanh nghiệp có thể vận dụng cho chiến lược chuyển đổi số của mình. Tùy đặc thù từng lĩnh vực, có thể bỏ qua một số bước và nội hàm của từng bước sẽ mang nội dung khác nhau, nhưng về tổng thể DOT có thể coi đây là mô hình chung. Vận dụng mô hình DOT, có thể phân tích, đánh giá hiện trạng trên lộ trình chuyển đổi số và đề xuất các bước chuyển đổi tiếp theo cho các lĩnh vực hoạt động của ngành dầu khí. Trong mỗi lĩnh vực, cần chia ra hợp lý thành từng khâu cơ bản; vận dụng khung của DOT, phân tích, đánh giá thực trạng chuyển đổi số cho từng khâu, từ đó cũng chỉ ra các bước cần làm tiếp theo trên lộ trình chuyển đổi số này. Nếu xây dựng một ma trận, với một chiều là 10 bước chuyển đổi số, chiều kia là các khâu hoạt động của một lĩnh vực dầu khí, trên đó đánh dấu hiện trạng chuyển đổi số của từng khâu và mục tiêu tiếp theo, sẽ có được một bức tranh, có thể tạm gọi là Bản đồ hiện trạng số và định hướng chuyển đổi số tổng quát nhất.

Thực trạng chuyển đổi số của công nghiệp dầu khí
Lĩnh vực thượng nguồn có ý nghĩa quan trọng, có khả năng mang lại giá trị gia tăng cao và cũng là lĩnh vực cốt lõi của công nghiệp dầu khí Việt Nam.
Trong lĩnh vực thượng nguồn, Deloitte chia thành các lĩnh vực nhỏ hơn, là thăm dò, phát triển và khai thác. Tiếp theo, thăm dò được chia thành các khâu cơ bản nhất: 1) Nghiên cứu địa chất; 2) Nghiên cứu địa chấn; 3) Khoan thăm dò. Phát triển bao gồm: 1) Lập kế hoạch phát triển; 2) Thiết kế và xây dựng; 3) Khoan phát triển. Khai thác bao gồm: 1) Hoàn thiện giếng; 2) Điều hành khai thác; 3) Can thiệp và sửa chữa giếng. Đặt 10 bước của chuyển đổi số vào 9 khâu của chuỗi thăm dò, phát triển khai thác dầu khí, cùng với những phân tích sau đây, có bản đồ hiện trạng số và định hướng chuyển đổi số của công nghiệp dầu khí thế giới.

Khâu nghiên cứu địa chấn, nhờ có lịch sử hơn 80 năm nghiên cứu, đánh giá các thành hệ địa chất, đã trở thành khâu tiên phong trong chuyển đổi số. Nhờ những máy tính tốc độ cao, cùng với những thuật toán tiên tiến, ngày nay các doanh nghiệp có thể phân tích khối lượng dữ liệu lớn, trong thời gian ngắn, tự động cho ra kết quả là mô hình phức tạp của tầng chứa. Một số doanh nghiệp đã đưa thêm thực tế ảo vào cùng kết quả minh giải địa chấn 3D để hiểu rõ hơn đặc điểm tầng chứa. Minh họa cho các kỹ thuật này là việc ExxonMobil phân tích tài liệu địa chấn để dự báo phân bố nứt nẻ trong các tầng chứa chặt sít, làm cơ sở cho tối ưu vị trí khoan và tăng khả năng khai thác của giếng. Đại học Tổng hợp Calgary cho tương tác mô hình mô phỏng với mô hình 3D thực tế để giúp các nhà điều hành Canada quản lý quá trình bơm hơi nóng và khai thác dầu nặng được tối ưu. Repsol đang triển khai dự án 3 năm áp dụng công nghệ xử lý dữ liệu địa chất, địa vật lý lớn để giảm rủi ro thăm dò, với mục tiêu cụ thể là tăng xác suất khoan thăm dò thành công, bắt đầu từ cuối năm thứ 2 của dự án.

Ở Việt Nam, lĩnh vực thăm dò cũng có truyền thống lâu đời, từ lâu đã có mức độ tích hợp dữ liệu cao, sử dụng nhiều công nghệ tiên tiến, cả trong thu thập, xử lý và minh giải tài liệu. Dữ liệu thu thập ngày càng nhiều, như trường hợp thu nổ 3D/4C của Vietsovpetro. Tính tích hợp thể hiện trong các công trình liên kết tài liệu địa chấn để nghiên cứu địa chất, đánh giá tiềm năng dầu khí trên toàn thềm, xây dựng cơ sở dữ liệu trữ lượng và tài nguyên cho các play, bể trầm tích và toàn thềm. Đã bước đầu nghiên cứu, áp dụng công nghệ xử lý, minh giải đặc biệt như: phân tích AVO, thuộc tính địa chấn, dựng ảnh tán xạ, tự động nhận biết đứt gãy…

Khâu khoan phát triển lại có những đặc thù riêng. Công tác khoan và hoàn thiện giếng chủ yếu do các nhà thầu dịch vụ tiến hành. Hàng loạt khâu dịch vụ với nội dung, mục tiêu, cách thức tiến hành khác nhau, cùng với hàng trăm bộ công cụ, phần mềm, công nghệ bản quyền của các nhà thầu khác nhau làm cho các dữ liệu của quá trình khoan khó tích hợp khi thiếu một chuẩn dữ liệu chung. Vì vậy, khâu này chủ yếu đang đặt ra mục tiêu tích hợp dữ liệu. Với sự cố gắng của nhiều tổ chức/đơn vị, Mô hình dữ liệu khoan WITSML (Wellsite Information Transfer Standard Markup Language) đã ra đời với hy vọng các nhà thầu và các công ty dịch vụ sẽ cùng thống nhất dùng chung dữ liệu. Sau khi tích hợp được dữ liệu khoan, các công cụ phân tích sẽ đưa khâu này lên bước tiến mới trong chuyển đổi số. Đón đầu xu thế này, Noble và Baker Hughes đang hợp tác phát triển hệ thống phân tích tín hiệu tần số cao từ hệ thống truyền động, cường độ sử dụng các thiết bị thành phần… để tối ưu hóa quá trình khoan. Các tín hiệu này được đo đạc, thu thập trên giàn ngoài khơi, sau đó được chuyển về trung tâm tính toán trên bờ. Tại đây, những thuật toán hiện đại sẽ dự báo các sự cố về rung lắc, nhiệt độ… hàng tuần trước khi có thể xảy ra, góp phần bảo đảm an toàn, tránh thời gian dừng, chờ, tăng tốc độ, nâng cao hiệu quả quá trình khoan. Trong lĩnh vực khoan ở Việt Nam, trong đó có khoan phát triển, rất nhiều dữ liệu được thu thập trong quá trình triển khai. Tuy nhiên, các dữ liệu này còn rời rạc, lưu giữ theo dự án, nhà thầu, hợp đồng PSC và chưa được tích hợp tốt để xử lý và giải các bài toán tối ưu.

Khâu khai thác lại hoàn toàn khác 2 khâu trước. Khoảng 40% lượng dầu khí sản xuất trên thế giới đến từ các mỏ có tuổi đời hơn 25 năm. Phần tài sản già cỗi khá lớn, phân bố không tập trung, cơ chế hoạt động với nhiều nhà đầu tư cùng tâm lý ưu tiên cho dòng tiền ổn định… đã làm cho khâu này ít hiện đại hơn, số lượng cảm biến không nhiều, dữ liệu thu thập ít hơn so với các khâu khác. Theo đánh giá của WellAware, đến những siêu công ty đa quốc gia với tiềm lực công nghệ và tài chính mạnh mới đủ khả năng theo dõi sát sao khoảng 60 – 70% số giếng khai thác của mình. Với thực tế đó, chiến lược chuyển đổi số của các doanh nghiệp dầu khí là phân loại tài sản và đầu tư có chọn lọc. Những tài sản mới, có tiềm năng cao, nên đầu tư thu thập dữ liệu bài bản từ đầu. Những tài sản tiềm năng trung bình, nên đầu tư khôn ngoan, lắp đặt những cảm biến thông dụng, bảo đảm hiệu quả. Với những tài sản quá già cỗi, tiềm năng thấp, nên tối ưu những tài sản đang có. Trên cơ sở dữ liệu thu thập và tích hợp được, có thể triển khai những thuật toán tối ưu hóa điều hành khai thác.

Một nhà điều hành ở Kazakhstan, gặp phải vấn đề về áp suất bơm và sản lượng khai thác không như thiết kế, đã lắp đặt các bơm điện chìm mới và áp dụng công cụ phân tích thời gian thực số liệu từ các bơm này để điều chỉnh lịch trình và công suất bơm. Theo báo cáo, giải pháp này đã giúp giảm được 27% thời gian dừng, chờ, xử lý sự cố của giếng.
BP đang hợp tác Silicon Microgravity phát triển cảm biến nhận biết dầu – nước đặc biệt nhỏ, có thể đưa sâu vào giếng, vỉa để theo dõi khả năng ngập nước trong giếng khai thác. Dự báo việc áp dụng cảm biến này có thể giúp nâng cao khả năng cho dòng lên 2%.

Apache đang phối hợp với Ayata áp dụng các thuật toán phân tích cơ sở dữ liệu thông tin về môi trường làm việc và hồ sơ theo dõi hỏng hóc của 100.000 bơm điện để tìm ra 40 thông số quan trọng quyết định hoạt động tin cậy của bơm. Qua đó, có thể nâng cao hiệu quả sử dụng bơm điện ngầm trong khai thác. Tương tự, các công ty dầu khí hoạt động ở Biển Bắc đang triển khai một dự án hợp tác xây dựng một nền tảng thương mại và quản lý tới 200.000 loại phụ tùng dự trữ chung. Giải pháp này giúp các doanh nghiệp giảm thiểu thời gian dừng và chi phí lưu kho [2].
Lĩnh vực khai thác dầu khí ở Việt Nam có hơn 30 năm phát triển. Công tác tối ưu khai thác, gia tăng thu hồi dầu luôn được chú trọng. Tuy nhiên, số lượng cảm biến không nhiều, số lượng tham số có thể theo dõi được còn hạn chế… đã làm cho việc tích hợp và xử lý dữ liệu gặp khó khăn.

Cách đây hơn 1 thập kỷ, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) đã giao Viện Dầu khí Việt Nam (VPI), phối hợp cùng Halliburton, triển khai nghiên cứu tiền khả thi xây dựng Trung tâm Dữ liệu Thăm dò Khai thác Dầu khí. Trung tâm này có khả năng tích hợp dữ liệu của toàn ngành, điều hành trực tuyến các hoạt động ngoài khơi, khi đi vào vận hành, sẽ đưa công nghiệp dầu khí Việt Nam tiến thẳng đến giai đoạn hình ảnh hóa và tăng cường thực tế.

Deloitte xây dựng bản đồ hiện trạng số và định hướng chuyển đổi số của lĩnh vực trung nguồn [4], được chia thành các lĩnh vực nhỏ và các khâu như sau: Thu thập và xử lý (gồm: hệ thống thu thập, thiết bị xử lý); đường ống (gồm: đường ống, hệ thống bơm, đo); lưu trữ (gồm: điều hành trạm; quản lý kho chứa). Về tổng thể, lĩnh vực trung nguồn có hạn chế nhất định trong chuyển đổi số so với lĩnh vực thượng nguồn, chủ yếu ở bước cảm biến hóa và tích hợp. Tình hình ở Việt Nam cũng tương tự, số liệu rời rạc, chưa được tích hợp. Dự báo chuyển đổi số ở lĩnh vực này có thể nhảy vọt, sớm tiếp cận các bước phân tích, hình ảnh hóa và tăng cường thực tế.

Trong lĩnh vực hạ nguồn ở Việt Nam, tại các nhà máy chế biến dầu khí, số liệu đã được thu thập, tổng hợp và có phân tích bước đầu. Tuy nhiên, việc phân tích cần đi vào chiều sâu, trên nền tảng số liệu đầy đủ hơn, kỹ thuật phân tích hiện đại hơn và tiến tới các bước hình ảnh hóa và tăng cường thực tế, nhằm hỗ trợ đưa ra các quyết định điều hành kịp thời, tối ưu hóa sản xuất, bảo đảm an toàn. Lưu ý rằng, trong lĩnh vực này mọi sáng kiến, giải pháp số cần xuất phát từ mục tiêu kinh doanh [1] và hướng tới những mô hình, phương thức kinh doanh mới.

Trong chuyển đổi số quan hệ với khách hàng, trên thế giới có nhiều sáng kiến, giải pháp và mô hình hay. Ở Việt Nam, đáng chú ý là chương trình PVOIL Easy dành cho khách hàng doanh nghiệp cần quản lý trực tuyến giao dịch mua bán xăng dầu. Đây là giải pháp dùng Thẻ điện tử (digital card), đọc QR code trên thiết bị di động của tài xế và nhân viên bán hàng để thực hiện giao dịch mua bán xăng dầu tại bất kỳ cửa hàng xăng dầu nào trong toàn hệ thống PVOIL trên cả nước. Doanh nghiệp ký hợp đồng với Tổng công ty Dầu Việt Nam – CTCP (PVOIL) có thể kiểm soát trực tuyến toàn bộ giao dịch và thanh toán vào cuối kỳ. Tuy nhiên, các sáng kiến như trên còn quá ít ỏi so với tiềm năng phát triển.

Các khó khăn thách thức cơ bản trong quá trình chuyển đổi số của công nghiệp dầu khí Việt Nam
Nhận thức, tư duy về chuyển đổi số của các doanh nghiệp dầu khí chưa thống nhất. Có doanh nghiệp, lĩnh vực đi trước một bước, có doanh nghiệp, lĩnh vực còn chậm thay đổi. Trong khi đó, để tối ưu hóa theo chuỗi, ứng dụng big data trong từng lĩnh vực, đòi hỏi sự thống nhất trong nhận thức và hợp tác chặt chẽ giữa các doanh nghiệp trong chuỗi hay trong cùng 1 khâu của chuỗi giá trị. Nhận thức hạn chế sẽ dẫn tới thiếu sự chuẩn bị nguồn lực cho công cuộc chuyển đổi số.
Mô hình quản trị và các quy trình đi kèm của các doanh nghiệp dầu khí còn lạc hậu, chưa theo kịp thực tiễn tiên tiến trên thế giới. Chuyển đổi số đòi hỏi nền tảng quản trị tiên tiến, đòi hỏi sự chuyển đổi quản trị song song với chuyển đổi số. Nếu không, sẽ chỉ là quá trình số hóa.

Hạ tầng thông tin của các doanh nghiệp dầu khí còn nhỏ lẻ, manh mún, thiếu kết nối. Ngay trong lĩnh vực cốt lõi là thăm dò, khai thác dầu khí, từng nhà điều hành có kho dữ liệu riêng, phần mềm riêng, quy trình vận hành riêng. Nếu hạ tầng thông tin đồng bộ, nền tảng công nghệ tiên tiến sẽ giúp cho quá trình chuyển đổi số nhanh hơn, hiệu quả hơn.
Hành lang pháp lý, chính sách thông tin của Việt Nam trong lĩnh vực dầu khí còn bất cập, chưa theo kịp thực tiễn. Ví dụ, tài liệu thăm dò, khai thác theo quy định chủ yếu là tài liệu mật, do đó không thể lưu trữ, lưu chuyển, xử lý trên nền tảng đám mây, trên hệ thống máy tính kết nối internet.

Đề xuất định hướng chuyển đổi số cho công nghiệp dầu khí Việt Nam
Xuất phát từ phân tích trên, định hướng lớn trong lĩnh vực thăm dò ở Việt Nam là tập trung xây dựng trung tâm dữ liệu thăm dò, khai thác. Trung tâm này cần tích hợp đầy đủ dữ liệu địa chất – địa vật lý, phát triển các công cụ phân tích đặc biệt, ứng dụng trí tuệ nhân tạo, học máy, tối ưu vị trí, đối tượng khoan thăm dò, nhằm giảm thiểu rủi ro [9]. Trong phát triển mỏ, trung tâm dữ liệu này tạo nền tảng tích hợp dữ liệu toàn bể từ các nhà thầu, dự án, nhà điều hành và tiến hành phân tích, tối ưu hóa cho từng chiến dịch khoan.
Đối với tài sản khai thác mới, cần xem xét thiết kế hệ thống cảm biến thu thập đầy đủ thông tin về mỏ và triển khai phân tích. Nếu tài sản cũ, cần phân loại theo khả năng sinh lời. Với mỏ có khả năng mang lại lợi ích cao khi được tối ưu, có thể xem xét hiện đại hóa, lắp đặt thêm cảm biến để thu thập dữ liệu và xử lý.

Dữ liệu thu được trong hơn 30 năm khai thác là khối lượng khổng lồ. Các nhà điều hành tại bể Cửu Long đều có chung vấn đề cần giải quyết: dự báo động thái vỉa dầu trong đá móng, tối ưu bơm ép nước, thổi khí, kéo dài tuổi thọ bơm điện chìm… nhằm gia tăng sản lượng, nâng cao hệ số thu hồi dầu. Ngoài ra, còn có các nhu cầu khác về thiết bị, phụ tùng, dụng cụ thay thế, các dịch vụ hỗ trợ khai thác… Việc tích hợp dữ liệu, chia sẻ bài học kinh nghiệm khi giải quyết các vấn đề chung, sử dụng các thuật toán phân tích hiện đại chạy trên dữ liệu lớn để tìm ra các quy luật tối ưu khai thác, chia sẻ dịch vụ, thiết bị, phụ tùng, dụng cụ thay thế… sẽ mang lại lợi ích to lớn cho các bên tham gia. PVN là đầu mối làm việc với các nhà thầu, khi nhận được sự đồng thuận, các bên có thể đóng góp nguồn lực và ủy quyền cho 1 nhà thầu làm đầu mối triển khai.

Một số ứng dụng chuỗi khối (blockchain), dữ liệu lớn (big data), trí tuệ nhân tạo (AI), học máy (machine learning)… đang được VPI nghiên cứu triển khai vào công tác thăm dò, khai thác dầu khí. Bên cạnh đó, việc nghiên cứu áp dụng phần mềm iNavigator (một dạng AI, trên nền big data, của BBL Venture) nhận dạng và phân tích các điểm nghẽn trong hoạt động, nhằm đưa ra các khuyến nghị cải tiến cho Công ty CP Phân bón Dầu khí Cà Mau (PVCFC) đã được VPI thực hiện. PVN cần tăng cường đặt hàng các nghiên cứu dạng này và quan trọng hơn là thúc đẩy quá trình ứng dụng các kết quả đạt được vào hoạt động thực tiễn của các đơn vị thành viên.

Đối với các nhà máy chế biến dầu khí, điện, có thể lắp đặt thêm cảm biến, đẩy mạnh việc thu thập, phân tích dữ liệu và hỗ trợ điều hành với mục tiêu giảm sự cố, thời gian dừng chờ, tối ưu các chỉ số an toàn và cuối cùng là nâng cao hiệu quả hoạt động. PVN cũng có thể xem xét giải pháp tối ưu hóa việc dùng chung các thiết bị, phụ tùng, dụng cụ thay thế, dự báo và sử dụng các dịch vụ bảo dưỡng sửa chữa trên nền tảng chia sẻ và tích hợp dữ liệu.

Với đặc điểm tích hợp theo chiều dọc, có thể xem xét giải pháp quản lý, tối ưu hóa toàn bộ chuỗi hoạt động dầu khí. Ví dụ, quá trình Liên doanh Việt – Nga “Vietsovpetro”, Công ty Liên doanh Điều hành Cửu Long (CLJOC) khai thác, bán dầu thô cho PVOIL, được Tổng công ty CP Vận tải Dầu khí (PV Trans) vận chuyển đến Nhà máy Lọc dầu Dung Quất có thể đưa vào hệ thống thông tin giúp các bên tham gia tối ưu hóa nguồn lực, giảm thời gian dừng chờ, giảm thời gian vận chuyển, lưu kho.

Công tác nghiên cứu và đào tạo phát triển nguồn nhân lực số phải đi trước một bước. Đại học Dầu khí Việt Nam đang triển khai chương trình đào tạo chuyển đổi nhận thức về quản trị và chuyển đổi số Best-In-Class (BIC), được VPI, Biển Đông POC, Phú Quốc POC tích cực tham gia. Tại VPI đã hình thành nhóm nghiên cứu, chuyên theo dõi và cập nhật các cơ hội phát triển và ứng dụng công nghệ số trong quản lý và sản xuất kinh doanh. Trong công tác quản lý, VPI đang triển khai theo 3 hướng: xây dựng trung tâm dữ liệu thăm dò khai thác, xây dựng hệ thống quản lý tri thức VPI Insights và đưa các công cụ quản lý, chia sẻ lên nền tảng đám mây của Microsoft. Trong nghiên cứu phục vụ sản xuất kinh doanh, VPI đang triển khai theo 3 hướng: phát triển, ứng dụng các thuật toán hiện đại vào phân tích dữ liệu giảm thiểu rủi ro thăm dò; phát triển, ứng dụng các thuật toán hiện đại vào phân tích dữ liệu, tối ưu khai thác; tối ưu hiệu quả hoạt động các nhà máy lọc dầu.

Đại hội đại biểu Đảng bộ Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam lần thứ III nhiệm kỳ 2020 – 2025 có nhiệm vụ kiểm điểm kết quả việc thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ II (Nghị quyết); quyết định phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp 5 năm tới của Đảng bộ. Đại hội được tiến hành theo phương châm: “Bản lĩnh – Trách nhiệm – Đoàn kết – Đổi mới – Hành động”, với chủ đề: “Xây dựng Đảng bộ vững mạnh toàn diện, phát triển Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (Tập đoàn) giữ vai trò nòng cốt thực hiện thắng lợi chiến lược phát triển ngành Dầu khí Việt Nam”.
Trong 5 qua, tình hình thế giới và khu vực chuyển biến nhanh, phức tạp và khó dự đoán; xu hướng đề cao lợi ích quốc gia, dân tộc, cạnh tranh chiến lược địa chính trị, địa kinh tế giữa các nước lớn diễn ra quyết liệt, tác động sâu sắc đến mọi mặt chính trị, kinh tế, xã hội, sắc tộc, tôn giáo trên toàn cầu, trong đó có sự khủng hoảng suy giảm của thị trường dầu mỏ. Cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 cùng với xu hướng năng lượng xanh, năng lượng tái tạo, năng lượng mới tác động mạnh mẽ đến các ngành, lĩnh vực trên thế giới, trong đó có ngành Dầu khí. Ở trong nước, tinh thần đại đoàn kết dân tộc, niềm tin của nhân dân với Đảng ngày càng củng cố, uy tín quốc tế của đất nước được nâng cao. Trong nhiệm kỳ khóa XII, Đảng ta đặc biệt quan tâm tăng cường công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Chính phủ quyết liệt chỉ đạo các giải pháp duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế, trong đó đáng chú ý là vấn đề mở cửa thị trường dịch vụ và cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước, cải cách hành chính, cải cách thể chế.
Giai đoạn 2015 – 2020, Tập đoàn phải đối mặt với những khó khăn, thách thức rất lớn. Về khách quan: Giá dầu thô liên tiếp giảm sâu và giữ ở mức thấp, tình hình Biển Đông phức tạp, cạnh tranh thương mại, biến đổi khí hậu, khủng hoảng do dịch bệnh Covid – 19 đã tác động trực tiếp đến mọi mặt hoạt động của Tập đoàn. Công tác quản lý Nhà nước về Dầu khí, các chính sách phục vụ phát triển bền vững Tập đoàn còn bất cập, thiếu thống nhất, Nghị quyết 41-NQ/TW của Bộ Chính trị chậm được thể chế hóa, chưa tạo ra một hệ sinh thái kinh doanh đồng bộ, xuyên suốt cả chuỗi giá trị. Các đơn vị dịch vụ, trung nguồn và hạ nguồn chịu chung tác động khó khăn từ khâu thượng nguồn; thị trường, việc làm, thu nhập của người lao động trở nên thách thức. Về chủ quan: Tập đoàn đã bộc lộ nhiều hạn chế về chất lượng nguồn lực, năng lực cạnh tranh, trình độ quản trị. Vừa qua, Tập đoàn phải tập trung lãnh đạo, chỉ đạo khắc phục hạn chế, khuyết điểm trong giai đoạn trước, hệ lụy không tránh khỏi, đã tác động đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, tư tưởng người lao động, uy tín và thương hiệu của Tập đoàn.
Mặc dù vậy, Tập đoàn đã luôn nhận được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, sự hỗ trợ tích cực của các bộ/ngành/địa phương. Ngay sau Đại hội II, Đảng ủy Tập đoàn đã khẩn trương ban hành các quy chế làm việc, các nghị quyết, chỉ thị, kết luận cụ thể hoá đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước; thông qua tổ chức đảng và đảng viên là lãnh đạo các cấp để nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong việc lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng đảng. Hằng năm, Đảng ủy Tập đoàn đã ban hành Nghị quyết lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ công tác, điểm mới trong nhiệm kỳ, Ban Thường vụ Đảng ủy Tập đoàn đã thảo luận, lựa chọn ưu tiên để giao nhiệm vụ cho cấp ủy, người đứng đầu cấp ủy/đơn vị trực thuộc Đảng ủy Tập đoàn; Hội đồng thành viên, Tổng giám đốc Tập đoàn đã ban hành Chương trình hành động, kế hoạch cụ thể hóa, triển khai thực hiện.
 
Đóng góp lớn cho nền kinh tế đất nước
Công tác điều tra cơ bản và tìm kiếm thăm dò dầu khí ở trong nước đã được Tập đoàn triển khai theo chương trình công tác và ngân sách được phê duyệt, đảm bảo hiệu quả, tối ưu dòng tiền phù hợp với từng loại hình dự án tìm kiếm, thăm dò, phát triển khai thác. Hoàn thành công tác thu nổ địa chấn 2D thuộc dự án PVN-15 và thu nổ địa chấn 3D theo chương trình công tác hằng năm của các lô hợp đồng dầu khí. Khai thác hiệu quả các mỏ hiện có; phát triển và đưa các mỏ dầu khí vào khai thác hợp lý. Triển khai thực hiện trích lập Quỹ thu dọn các mỏ, bảo đảm hoàn nguyên môi trường sinh thái khi các mỏ đã hết khả năng khai thác. Trong 05 năm qua, Tập đoàn hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu kế hoạch khai thác dầu khí hằng năm Chính phủ giao (kể cả giao bổ sung tăng thêm như năm 2017): Tổng sản lượng khai thác dầu khí ước đạt 150,3 triệu tấn quy dầu, vượt 0,2% chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội đề ra. Công tác tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí còn góp phần quan trọng trong việc khẳng định chủ quyền quốc gia trên biển.
Hạ tầng ngành công nghiệp khí dần được hoàn thiện, góp phần bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia. Hệ thống các đường ống dẫn khí được vận hành an toàn, cung cấp khí ổn định cho các hộ tiêu thụ công nghiệp và tiêu dùng dân sinh. Nguồn khí được cung cấp để: sản xuất điện chiếm 31-33% sản lượng điện toàn quốc; sản xuất đạm trên 1,6 triệu tấn/năm, chiếm 70-75% nhu cầu nội địa. Triển khai việc nhập khẩu và phân phối khí LPG và CNG cho hộ công nghiệp và các hộ tiêu thụ dân sinh trong cả nước. Áp dụng các chính sách thúc đẩy sử dụng khí, đa dạng hóa hình thức đầu tư xây dựng nhà máy điện khí, khuyến khích nghiên cứu sử dụng các công nghệ sạch, tiết kiệm năng lượng, bảo vệ môi trường… Huy động được nhiều thành phần kinh tế tham gia sản xuất kinh doanh khí, đa dạng hóa nguồn vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng công nghiệp khí.
Các dự án trong lĩnh vực chế biến dầu khí được tập trung triển khai; sản xuất xăng dầu ước đạt 52,74 triệu tấn, vượt 1,4% chỉ tiêu; Sản xuất đạm ước đạt 9,72 triệu tấn, vượt 23% chỉ tiêu Nghị quyết đề ra, đáp ứng 70 – 75% nhu cầu đạm trên thị trường và bước đầu đã xuất khẩu. Các nhà máy đạm, lọc – hóa dầu được vận hành an toàn, công tác bảo trì, sửa chữa thường xuyên, định kỳ được tuân thủ đúng yêu cầu của nhà chế tạo và theo kế hoạch.
Tập đoàn tăng cường công tác quản lý, vận hành, bảo trì, sửa chữa đối với các dự án điện đã hoàn thành, bảo đảm hiệu quả đầu tư. Sản xuất điện ước đạt 128,84 tỷ kWh, đạt chỉ tiêu Nghị quyết đề ra, chiếm khoảng 10-12% tổng sản lượng điện thương phẩm toàn quốc, góp phần bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia.
Đầu nhiệm kỳ, lĩnh vực dịch vụ dầu khí của Tập đoàn gặp nhiều khó khăn do giá dịch vụ và khối lượng công việc suy giảm theo diễn biến của giá dầu; các nhà thầu dầu khí dừng/giãn, cắt giảm khối lượng công việc và giá dịch vụ, công tác phát triển dịch vụ ra nước ngoài gặp nhiều khó khăn do sự cạnh tranh khốc liệt… Hai năm 2018 – 2019, giá dầu phục hồi đã giúp lĩnh vực dịch vụ dầu khí có chuyển biến tương đối thuận lợi, doanh thu dịch vụ dầu khí 5 năm 2016 – 2020 đạt 895 nghìn tỷ đồng; Nộp ngân sách Nhà nước từ lĩnh vực dịch vụ 5 năm đạt 55,1 nghìn tỷ đồng. Tăng trưởng dịch vụ 9%, đạt chỉ tiêu Nghị quyết đề ra. Hầu hết các đơn vị dịch vụ có đủ năng lực để thực hiện các yêu cầu dịch vụ dầu khí chất lượng cao, tham gia thực hiện công trình quốc phòng trên biển.
Tập đoàn đã tích cực tham gia phát triển hợp lý hệ thống phân phối xăng dầu nhằm góp phần bảo đảm lưu thông và bình ổn thị trường tiêu thụ; tăng cường các giải pháp gia tăng dự trữ về dầu thô và sản phẩm xăng dầu để góp phần bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia. Hiện tại thị phần phân phối xăng dầu trong nước của Tập đoàn (thông qua PVOil) chiếm trên 14%, với sản lượng trung bình khoảng 3,0-3,07 triệu tấn/năm đứng thứ hai (sau Petrolimex).
Từ nỗ lực trong sản xuất – kinh doanh, kết quả tổng doanh thu toàn Tập đoàn ước đạt 3.514,6 nghìn tỷ đồng, vượt 6,5% chỉ tiêu, lợi nhuận sau thuế hợp nhất Tập đoàn ước đạt 244,4 nghìn tỷ đồng, vượt 6,3% chỉ tiêu Nghị quyết đề ra.
 
3 giải pháp đột phá mang lại kết quả
Xuất phát từ nhu cầu của Tập đoàn đồng thời thực hiện các chủ trương lớn của Đảng, Đảng ủy Tập đoàn đã chỉ đạo công tác tái cơ cấu bộ máy điều hành, hoàn thiện cơ cấu tổ chức, nhân sự và tinh gọn, bước đầu đã nâng cao vai trò và hiệu quả điều hành. Đẩy mạnh công tác cải cách hành chính, áp dụng triệt để các tính năng phần mềm quản lý, xử lý công văn nội bộ trong Tập đoàn, giúp nâng cao trách nhiệm, tính chuyên nghiệp, kiểm soát được tiến độ trong xử lý công việc. Ban hành Bộ quy chế quản trị nội bộ tạo điều kiện cho các hoạt động được thông suốt, phù hợp với những thay đổi về kinh tế, pháp luật, xu hướng công nghệ và tạo tiền đề cho quản trị số trong tương lai. Tập đoàn đã tập trung triển khai thực hiện sắp xếp, cổ phần hóa, thoái vốn các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn giai đoạn 2017 – 2020 theo đúng tiến độ; thực hiện thành công thoái vốn tại 02 đơn vị, cổ phần hóa tại 03 đơn vị. Việc phân cấp, tăng cường tính tự chủ và tự chịu trách nhiệm cho các đơn vị khuyến khích sự năng động của đơn vị cùng với cơ chế giám sát chặt chẽ thông qua người đại diện từng bước được thực hiện.
Từ đầu năm 2020, trước tác động kép của dịch bệnh Covid-19 và giá dầu giảm sâu, Tập đoàn đã chủ động theo phương châm “Quản trị biến động, tối ưu giá trị, đẩy mạnh tiêu thụ, nỗ lực vượt khó, nắm bắt cơ hội, an toàn về đích”, tổ chức thực hiện quyết liệt và đồng bộ gói giải pháp cấp bách để ứng phó với tác động kép của dịch bệnh Covid-19 và giá dầu giảm, trong đó tập trung vào 05 nhóm giải pháp tổng thể là: (1) Nhóm giải pháp về quản trị; (2) Nhóm giải pháp về tài chính; (3) Nhóm giải pháp về đầu tư; (4) Nhóm giải pháp về thị trường; (5) Nhóm giải pháp về cơ chế chính sách; và chi tiết cụ thể hóa cho 05 lĩnh vực hoạt động của Tập đoàn, 03 lĩnh vực trọng tâm được xác định chịu ảnh hưởng trực tiếp và nặng nề nhất do tác động kép đó là: (1) Tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí; (2) Chế biến dầu khí và phân phối sản phẩm dầu khí; (3) Dịch vụ dầu khí. Sau thời gian quyết liệt triển khai đồng bộ, bước đầu Tập đoàn đã đạt được những kết quả khích lệ. Trong 6 tháng đầu năm 2020, lợi nhuận sau thuế hợp nhất của Tập đoàn đạt 13,5 nghìn tỷ đồng. Nếu không thực hiện hiệu quả 5 nhóm giải pháp quản trị thì Tập đoàn sẽ thua lỗ giống như nhiều công ty dầu khí khác trên thế giới.
Công tác đào tạo và phát triển nhân lực tập trung cho 5 lĩnh vực sản xuất kinh doanh chính, đào tạo nâng cao năng lực quản lý cho lãnh đạo cấp cao, quản lý cấp trung và cán bộ nguồn; đào tạo bồi dưỡng thường xuyên về chuyên môn, nghiệp vụ. Bên cạnh đó, Tập đoàn đã xây dựng chương trình đào tạo khung cho khối kỹ thuật và tiếp tục xây dựng chương trình đào tạo khung cho cán bộ lãnh đạo/quản lý và khối nghiệp vụ phi kỹ thuật.
Tập đoàn đã đầu tư nghiên cứu đánh giá tiềm năng triển vọng dầu khí phục vụ cho công tác gia tăng trữ lượng, nghiên cứu chế tạo, nghiên cứu định hướng và đặc biệt là nghiên cứu ứng dụng để phục vụ cho hoạt động sản xuất, kinh doanh. Ứng dụng khoa học – công nghệ, các thành tựu của Cách mạng Công nghiệp 4.0 được triển khai ở tất cả các lĩnh vực hoạt động của Tập đoàn. Khâu đầu đã ứng dụng các công nghệ mới trong xử lý và minh giải số liệu địa chấn, địa vật lý giếng khoan giúp nâng cao độ tin cậy và chính xác hóa các kết quả xử lý và phân tích; xây dựng mô hình địa chất, thiết kế mô hình mô phỏng khai thác, công nghệ khoan và hoàn thiện giếng giúp giảm thiểu rủi ro trong thi công khoan; trong quản lý và vận hành khai thác góp phần duy trì và gia tăng sản lượng khai thác, bảo đảm an toàn mỏ… Ở lĩnh vực khâu sau, điện và khí, ứng dụng các công nghệ mới của nước ngoài trong thiết kế, vận hành và duy trì hoạt động góp phần nâng cao hiệu quả của các nhà máy.
 
Tổ chức Đảng đã giữ vai trò hạt nhân
Tổ chức cho toàn thể đảng viên học tập, quán triệt và triển khai thực hiện các nghị quyết của Đảng. Coi trọng việc nắm bắt tư tưởng, dư luận quần chúng lao động trong ngành và dư luận xã hội, nhất là những vấn đề chính trị thời sự, tình hình Biển Đông; tích cực tuyên truyền giữ vững chủ quyền quốc gia trên biển. Tuyên truyền, giải thích với cán bộ, đảng viên và người lao động, phản bác những luận điểm sai trái về vấn đề kinh tế – xã hội, lao động việc làm, chế độ, chính sách cũng như những vấn đề liên quan đến hoạt động của Tập đoàn. Chủ động cung cấp thông tin, tuyên truyền việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của Tập đoàn và các đơn vị thành viên để dư luận hiểu đầy đủ, chính xác, đồng thời tạo sự đồng thuận, hỗ trợ, hợp tác của truyền thông và toàn xã hội. Việc thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW, Nghị quyết Trung ương 4 (khoá XI, XII); các quy định về chuẩn mực đạo đức, lối sống của đảng viên, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo các cấp, người đứng đầu trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao là một trong những tiêu chí đánh giá, xếp loại chất lượng cán bộ, đảng viên hằng năm. Triển khai Văn hóa Petrovietnam trong các hoạt động sản xuất, kinh doanh, thực hiện an sinh xã hội cũng như trong thỏa ước lao động tập thể, gắn với học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; bảo vệ giá trị cốt lõi và thương hiệu Petrovietnam.
Đảng uỷ Tập đoàn đặc biệt quan tâm xây dựng hệ thống và nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức cơ sở đảng; củng cố, sắp xếp, kiện toàn tổ chức cơ sở đảng trong Đảng bộ và đoàn thể đồng bộ với quá trình tái cấu trúc doanh nghiệp. Hằng năm xếp loại tổ chức cơ sở đảng trong sạch vững mạnh (từ năm 2018 đổi thành hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ) đạt 100% so với chỉ tiêu Đại hội. Hệ thống các văn bản về Công tác cán bộ được Ban Thường vụ Đảng ủy, Hội đồng thành viên ban hành đầy đủ, đồng bộ, thống nhất, triển khai thực hiện trong toàn Tập đoàn; Tổng giám đốc Tập đoàn đã xây dựng hệ thống quản trị nhân sự theo năng lực. Tiến hành nhận xét, đánh giá cán bộ theo định kỳ và đánh giá trước khi quy hoạch, bổ nhiệm, luân chuyển, điều động cán bộ. Thực hiện nghiêm túc kiểm điểm tự phê bình và phê bình làm tiền đề phân loại, đánh giá cán bộ và chỉ đạo xây dựng, bổ sung quy hoạch cán bộ các cấp trong Tập đoàn. Ban Thường vụ Đảng ủy Tập đoàn đã xây dựng kế hoạch, hướng dẫn, chỉ đạo cấp ủy đảng trực thuộc rà soát, bổ sung quy hoạch, thực hiện điều động và luân chuyển cán bộ, tạo điều kiện cho cán bộ trẻ có triển vọng, cán bộ diện quy hoạch được rèn luyện trong thực tiễn và tránh tình trạng khép kín trong công tác cán bộ. Công tác cơ sở đảng, đảng viên và nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, sinh hoạt cấp ủy các cấp được cải tiến và nâng cao chất lượng. Các chi/đảng bộ trong toàn Tập đoàn thực hiện nghiêm túc chủ trương nâng cao chất lượng kết nạp đảng viên và rà soát, sàng lọc, đưa những đảng viên không còn đủ tư cách ra khỏi Đảng. Công tác bảo vệ chính trị nội bộ, quản lý đảng viên có liên quan đến yếu tố nước ngoài, thực hiện nhiệm vụ của đảng viên ra nước ngoài, bảo mật, lưu trữ, bảo quản tài liệu bảo đảm đúng quy định.
Công tác kiểm tra, giám sát, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo, thi hành kỷ luật đảng và phòng chống tham nhũng, lãng phí được thực hiện bảo đảm đúng phương hướng, phương châm, nguyên tắc, thủ tục, quy trình; tham mưu thực hiện tốt quy chế phối hợp trong công tác kiểm tra, giám sát và các nhiệm vụ khác do cấp ủy, ủy ban kiểm tra cấp trên giao; đã góp phần cảnh báo, ngăn ngừa tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên. Trong nhiệm kỳ đã nghiêm túc thực hiện quyết định kiểm tra, kết luận kiểm tra của Uỷ ban Kiểm tra Trung ương và của Đảng uỷ Khối Doanh nghiệp Trung ương, chủ động rà soát, khắc phục các hạn chế, tồn tại liên quan đến nội dung kiểm tra.
Đảng ủy Tập đoàn đã quán triệt, triển khai, thực hiện nghiêm túc công tác Dân vận, làm tốt công tác an sinh xã hội trong nội bộ và nhất là những nơi có hoạt động Dầu khí. Chỉ đạo các đoàn thể phối hợp với lãnh đạo doanh nghiệp phát động các phong trào thi đua yêu nước, thực hiện Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”, tạo sự đồng thuận của người lao động trong công tác tái cơ cấu, cổ phần hóa, trong đẩy mạnh sáng kiến, sáng tạo, hoàn thành các chỉ tiêu sản xuất, kinh doanh. Ban chỉ đạo thực hiện Quy chế dân chủ các cấp trong Tập đoàn đã chỉ đạo các đoàn thể tích cực tham gia xây dựng và giám sát việc thực hiện các quy chế, quy định theo pháp luật và điều lệ của các tổ chức, giám sát việc thực hiện kế hoạch sản xuất, kinh doanh, các chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, thi đua khen thưởng; đóng góp ý kiến cho công tác cán bộ, xây dựng Văn hóa doanh nghiệp, chính sách với lao động trẻ, lao động nữ và người hưu trí… Việc tổ chức đối thoại được tổ chức đúng quy định, những vấn đề đưa ra đối thoại được giải quyết thỏa đáng.
Nhìn lại nhiệm kỳ 2015 – 2020 của Đảng bộ Tập đoàn cũng là trọn vẹn 5 năm thực hiện Nghị quyết 41-NQ/TW của Bộ Chính trị, là giai đoạn Tập đoàn phải đối diện với những khó khăn, thách thức lớn nhất trong lịch sử của ngành Dầu khí. Song với tinh thần cầu thị, thực sự bản lĩnh, đoàn kết, nỗ lực và ý chí quyết tâm, tập thể cán bộ, đảng viên, công nhân viên lao động Dầu khí đã phấn đấu hoàn thành và hoàn thành vượt mức 08 nhóm chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội II Đảng bộ Tập đoàn đề ra. Tập đoàn tiếp tục có đóng góp lớn và giữ vai trò quan trọng đảm bảo cân đối ngân sách Nhà nước. Các sản phẩm chủ lực của Tập đoàn là dầu thô, xăng dầu, khí thiên nhiên, khí hóa lỏng, điện, đạm… với tỷ trọng lớn, góp phần rất quan trọng phát triển kinh tế – xã hội đất nước và đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia. Quan tâm phát triển hệ thống quản trị tiên tiến, đáp ứng các yêu cầu theo thông lệ quốc tế, minh bạch trong hoạt động. Bên cạnh phát triển kinh tế, Tập đoàn góp phần tham gia tích cực trong việc khẳng định, bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia trên biển.
Tổ chức đảng các cấp trong toàn Đảng bộ đã giữ vai trò hạt nhân, lãnh đạo toàn diện, đặc biệt trong giai đoạn khủng hoảng. Phương thức lãnh đạo của Đảng ủy tiếp tục được đổi mới; chú trọng rà soát, khắc phục các khâu yếu kém trong công tác cán bộ, tạo chuyển biến tích cực và ngày càng đi vào nền nếp. Công tác xây dựng Đảng, đoàn thể trong Tập đoàn được củng cố theo hướng thiết thực, hiệu quả. Tổ chức bộ máy của doanh nghiệp được tái cơ cấu với quyết tâm chính trị cao. Công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng được thực hiện toàn diện, đồng bộ, có hiệu lực, hiệu quả hơn../
 
Nhóm 8 chỉ tiêu đạt và vượt
(1) Tổng sản lượng khai thác dầu khí ước đạt 150,3 triệu tấn quy dầu, vượt 0,2% chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội đề ra (130-150 triệu tấn quy dầu), trong đó:
+ Tổng sản lượng khai thác dầu ước đạt 89,17 triệu tấn quy dầu, đạt so với chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội đề ra (80-90 triệu tấn).
+ Tổng sản lượng khai thác khí ước đạt 61,12 tỷ m3, vượt 1,86% chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội đề ra (50-60 tỷ m3).
(2) Sản xuất điện ước đạt 128,84 tỷ kWh, đạt chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội đề ra (120-130 tỷ kWh).
(3) Sản xuất đạm ước đạt 9,72 triệu tấn, vượt 23% chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội đề ra (7,9 triệu tấn).
(4) Sản xuất xăng dầu ước đạt 52,74 triệu tấn, vượt 1,4% chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội đề ra (50 – 52 triệu tấn).
(5) Tổng doanh thu toàn Tập đoàn ước đạt 3.514,6 nghìn tỷ đồng, vượt 6,5% chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội đề ra (3.000 – 3.300 nghìn tỷ đồng).
(6) Lợi nhuận sau thuế hợp nhất Tập đoàn ước đạt 244,4 nghìn tỷ đồng, vượt 6,3% chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội đề ra (200 – 230 nghìn tỷ đồng).
(7) Tăng trưởng dịch vụ đạt 9%, đạt chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội đề ra (8-10%).
Tổ chức cơ sở đảng trong sạch vững mạnh (từ năm 2018 đổi thành tổ chức đảng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và tỉ lệ không quá 20%) từ năm 2015 – 2017 đạt trên 50%, từ năm 2018 – 2019 đạt trên 20% đạt 100% so với chỉ tiêu đại hội.
 
Bài học kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn
Một là, đối với Tập đoàn, 45 năm qua, cũng như 05 năm thực hiện Nghị quyết 41-NQ/TW đã chứng minh rằng, tầm nhìn chiến lược đúng đắn, đường lối, chủ trương, chính sách phù hợp với điều kiện thực tế trong nước và hoàn cảnh quốc tế là yếu tố quyết định để nắm bắt các cơ hội, phát huy nội lực, tăng cường hợp tác quốc tế, đẩy mạnh hoạt động dầu khí trong nước.
Hai là, Đảng bộ Tập đoàn phải nêu cao bản lĩnh, tính chiến đấu, ý thức chủ động, bình tĩnh, tự tin, giữ vai trò hạt nhân, tập hợp đoàn kết, giữ gìn ổn định, cân bằng, sẵn sàng đối diện thách thức, đương đầu với khủng hoảng.
Ba là, bảo đảm nguyên tắc: Đảng lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị và thống nhất quản lý cán bộ trong doanh nghiệp. Tập thể lãnh đạo phải có trình độ chuyên môn, kỹ năng quản lý, có tinh thần đoàn kết, thống nhất, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm nhưng phải tuân thủ các quy định của pháp luật; không bao che, kiên quyết xử lý các cán bộ vi phạm pháp luật; chủ động, linh hoạt trong quản trị, điều hành vì mục tiêu phát triển bền vững. Nguồn nhân lực phải được đào tạo toàn diện, nhất là về trình độ chuyên môn nghiệp vụ, quản lý, khoa học – công nghệ, tay nghề.
Bốn là, tập trung nguồn lực để đầu tư phát triển các lĩnh vực kinh doanh chính bao gồm: tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí, công nghiệp khí, chế biến dầu khí, điện và năng lượng tái tạo, dịch vụ dầu khí theo chỉ đạo của Chính phủ.
Năm là, Tập đoàn cần tiếp tục được tập trung tăng cường nguồn lực; có các chính sách đặc thù để phát triển bền vững; bên cạnh đó, cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, bảo đảm để Tập đoàn phát triển đúng Chiến lược đã được Bộ Chính trị định hướng.
Giai đoạn 2020 – 2025, Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 41-NQ/TW của Bộ Chính trị “về định hướng Chiến lược phát triển ngành Dầu khí Việt Nam đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2035”, đồng thời cập nhật các quan điểm của Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Trung ương “về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”, Nghị quyết số 55-NQ/TW ngày 11/02/2020 của Bộ Chính trị “về định hướng Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”. Đây cũng là thời kỳ Tập đoàn phải bám sát xu thế phát triển của thế giới, chiến lược phát triển đất nước, chủ động thích nghi với các hiệp định thương mại tự do, hiệp định kinh tế mới; tăng cường năng lực dự báo, quản trị rủi ro; ứng phó hiệu quả các biến động, bất định; đối diện với suy thoái, khủng hoảng kinh tế toàn cầu do dịch bệnh Covid-19 tiếp tục diễn biến phức tạp; hòa bình, ổn định, tự do, an ninh, an toàn trên Biển Đông đứng trước thách thức, nguy cơ lớn. Trong bối cảnh đó, Tập đoàn sẽ kiên định phát triển với Mục tiêu tổng quát là: Xây dựng Đảng bộ vững mạnh toàn diện, phát triển Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam giữ vai trò nòng cốt, chủ lực, đầu tầu, có tiềm lực mạnh về tài chính và trình độ khoa học công nghệ tiên tiến; có sức cạnh tranh cao, thực hiện thắng lợi Chiến lược phát triển ngành Dầu khí. Tập trung phát triển các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh chính: tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí, công nghiệp khí, chế biến dầu khí, công nghiệp điện và năng lượng tái tạo, dịch vụ kỹ thuật dầu khí chất lượng cao. Bảo toàn và phát triển nguồn vốn; gắn hoạt động sản xuất, kinh doanh với bảo vệ môi trường và an ninh quốc phòng, bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển. Để thực hiện tốt các mục tiêu đề ra, toàn Đảng bộ sẽ phải tập trung:
Nâng cao vai trò và trách nhiệm lãnh đạo toàn diện của tổ chức đảng trong Tập đoàn, thông qua triển khai học tập, quán triệt, chấp hành chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; xây dựng và thực hiện nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh; sử dụng, bảo toàn và phát triển vốn Nhà nước; công tác chính trị, tư tưởng, học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; công tác cán bộ; công tác kiểm tra – giám sát, đấu tranh phòng, chống tham nhũng lãng phí; chú trọng công tác dân vận, lãnh đạo các tổ chức chính trị – xã hội phối hợp hành động, cùng với chuyên môn phát huy sức mạnh của người lao động, đoàn viên, hội viên trong thực hiện Chiến lược phát triển ngành Dầu khí. Coi trọng công tác truyền thông, phát triển thương hiệu gắn với công tác an sinh xã hội. Thực hiện Cuộc vận động “Người Việt Nam tự hào dùng hàng Việt Nam”; thực hiện tốt Quy chế dân chủ cơ sở trong cơ quan, doanh nghiệp. Đổi mới, hoàn thiện mô hình tổ chức, phát huy vai trò và nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức chính trị – xã hội, xã hội – nghề nghiệp trong quá trình triển khai thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động. Xây dựng, hoàn thiện hệ thống các quy chế, quy định của cấp ủy: quy chế làm việc, quan hệ công tác, quản lý cán bộ theo quy định của Đảng. Quy định rõ trách nhiệm của cấp ủy, người đứng đầu tổ chức đảng trong doanh nghiệp khi để xảy ra thua lỗ, tổn thất trong hoạt động và vi phạm chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Thực hiện đầy đủ, nghiêm túc chức năng nhiệm vụ tổ chức đảng trong từng loại hình đơn vị, doanh nghiệp; đảm bảo sự đồng bộ, thống nhất trong thực thi nghị quyết của Đảng, xây dựng các nghị quyết, quy định của cấp ủy với các quy định của cấp quản lý, điều hành về công tác tổ chức và cán bộ đảm bảo nguyên tắc: Đảng lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị và thống nhất quản lý cán bộ.
Tăng cường công tác quản trị chiến lược từ khâu hoạch định, thiết lập, triển khai tổ chức thực hiện, kiểm tra đánh giá và khắc phục điều chỉnh chiến lược nhằm đạt được những mục tiêu chiến lược phát triển dài hạn của Tập đoàn. Song song với phát triển năng lượng truyền thống, Tập đoàn sẽ đẩy mạnh phát triển năng lượng mới, năng lượng tái tạo bám sát xu hướng chuyển dịch năng lượng toàn cầu đảm bảo phát triển bền vững. Tiếp tục cải cách, đổi mới, áp dụng các phương thức quản trị tiên tiến nhằm nâng cao hiệu quả quản trị, quản lý các nguồn lực của Tập đoàn. Tích cực cải tiến, hợp lý hóa sản xuất, thực hành tiết kiệm, tăng năng suất lao động, nâng cao năng lực cạnh tranh; tái cơ cấu sắp xếp doanh nghiệp, giảm bớt trung gian, tinh gọn bộ máy. Đẩy mạnh công tác cổ phần hóa, thoái vốn tại các lĩnh vực Nhà nước không cần nắm vốn chi phối, hợp nhất các đơn vị có cùng chức năng nhiệm vụ, xử lý, tái cơ cấu các dự án, doanh nghiệp kém hiệu quả, thua lỗ. Trong quá trình thực hiện bộ Quy chế Quản trị Công ty Mẹ-Tập đoàn thường xuyên cập nhật phù hợp với thực tiễn doanh nghiệp; kiên quyết chấn chỉnh, nâng cao ý thức trách nhiệm cá nhân; phân cấp, phân quyền rõ ràng đi đôi với chế tài xử lý trách nhiệm giữa Tập đoàn và người đại diện Tập đoàn tại đơn vị, doanh nghiệp. Tổng hợp các dữ liệu để nhận định rủi ro trọng yếu; coi quản trị sự thay đổi là công tác liên tục của Tập đoàn trong từng lĩnh vực, nhiệm vụ chuyên môn nhằm định hướng và thiết lập, xây dựng các quy trình, quy chế kiểm soát rủi ro phù hợp với mô hình hoạt động của Tập đoàn.
Tập trung xử lý các tồn tại tài chính trước đây một cách toàn diện và triệt để. Chú trọng công tác quản trị tài chính từ khâu lập kế hoạch trên cơ sở các giả định thị trường, từ đó hoàn thiện hệ thống báo cáo quản trị, phân tích tài chính làm cơ sở để ra quyết định đúng đắn trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Tiếp tục đề xuất kiến nghị Nhà nước hoàn thiện cơ chế tài chính phù hợp với mô hình phát triển doanh nghiệp Dầu khí. Chủ động, linh hoạt trong việc thu hút vốn qua các quỹ đầu tư, thị trường chứng khoán, trái phiếu… đáp ứng nhu cầu phát triển, chia sẻ rủi ro, thu hồi vốn và bổ sung vốn chủ sở hữu.
Rà soát tổng thể các dự án đầu tư đang triển khai; tập trung nguồn lực vào các dự án có hiệu quả cao, các dự án cấp bách; quyết liệt xử lý các dự án yếu kém, tồn đọng kéo dài. Đẩy nhanh tiến độ triển khai các dự án trọng điểm, đặc biệt là các chuỗi dự án khí – điện. Đề xuất cơ chế chính sách ưu đãi đầu tư phù hợp với cam kết quốc tế để thu hút đầu tư nước ngoài và các thành phần kinh tế khác vào hoạt động dầu khí, đặc biệt là trong lĩnh vực tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí, chế biến dầu khí và đầu tư phát triển năng lượng tái tạo. Tối ưu hóa nguồn lực giữa các đơn vị, các khối trong Tập đoàn; phát huy thế mạnh, nâng cao lợi thế cạnh tranh của từng đơn vị để phát triển một hoặc nhiều chuỗi giá trị.
Tái cơ cấu các cơ sở đào tạo và nghiên cứu khoa học nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng đáp ứng yêu cầu phát triển của ngành Dầu khí trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng và tác động mạnh mẽ của cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0. Phát triển nguồn nhân lực Dầu khí chuyên nghiệp, theo tiêu chuẩn quốc tế; chú trọng đào tạo nâng cao năng lực quản lý, điều hành; ưu tiên đào tạo về chuyên môn, kỹ năng thuộc các lĩnh vực kinh doanh chính, chuyên gia thuộc các lĩnh vực cốt lõi. Xây dựng chế độ thù lao, thu nhập của người lao động có chuyên môn cao tiệm cận với thu nhập của các nước trong khu vực.
Đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu khoa học, ứng dụng, chuyển giao công nghệ phục vụ phát triển bền vững, bảo vệ tài nguyên, môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng. Áp dụng các giải pháp công nghệ tiên tiến kết hợp với các chính sách khuyến khích phù hợp để gia tăng hiệu số thu hồi dầu cũng như đưa các mỏ nhỏ, mỏ cận biên vào phát triển khai thác. Chủ động và tích cực tham gia cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 để sớm triển khai ứng dụng các giải pháp thích hợp, đồng thời với xây dựng hệ sinh thái số nhằm nâng cao hiệu quả chuỗi giá trị. Coi công tác quản lý an toàn, an ninh, môi trường là văn hóa đặc trưng của Tập đoàn.
Thông qua Tái tạo Văn hóa Petrovietnam làm cho các giá trị văn hoá thấm sâu vào mọi hoạt động của tổ chức Đảng, hoạt động quản trị, điều hành sản xuất, kinh doanh trong Tập đoàn và các đơn vị thành viên, tạo môi trường cho cán bộ, đảng viên tu dưỡng, giữ gìn đạo đức, phẩm chất, lối sống; người lao động Dầu khí tin tưởng, yên tâm, tự hào và gắn bó với Tập đoàn Dầu khí. Tuyên truyền, vận động, tập huấn, đào tạo nhằm nâng cao nhận thức, ý thức trong Tái tạo Văn hóa Petrovietnam của cán bộ, công nhân viên.
Thực hiện hợp tác có hiệu quả các quy chế phối hợp và các thỏa thuận hợp tác giữa Tập đoàn với các cơ quan của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Ngoại giao để chủ động chuẩn bị thực hiện tốt nhiệm vụ kiểm soát, điều tra cơ bản, tìm kiếm, thăm dò dầu khí. Có chính sách thu hút, hợp tác với các công ty dầu khí thuộc các nước lớn đối với hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí trên vùng biển và thềm lục địa Việt Nam, vừa phục vụ phát triển kinh tế, vừa bảo vệ chủ quyền trên biển.
———————————————————–
Đại hội đại biểu Đảng bộ Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam lần thứ III, nhiệm kỳ 2020 – 2025 là dịp tổng kết chặng đường 5 năm đã qua với những khó khăn liên tiếp, chưa từng có trong lịch sử Tập đoàn. Tuy nhiên, trong hoàn cảnh bất thường càng tỏ rõ bản lĩnh, trí tuệ của người Dầu khí; qua đây, Ban Chấp hành Đảng bộ Tập đoàn nhận thức sâu sắc về trách nhiệm với Đảng, với Nhà nước, với cán bộ, công nhân viên, người lao động Dầu khí và nhân dân. Với tinh thần Bản lĩnh – Trách nhiệm – Đoàn kết – Đổi mới – Hành động, Đảng bộ Tập đoàn sẽ nghiêm túc khắc phục, sửa chữa những hạn chế, khuyết điểm, tận dụng thời cơ, tự tin vượt qua thách thức, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu, phát huy mọi nguồn lực, quyết tâm thực hiện hoàn thành mục tiêu, nhiệm vụ được Đảng và nhân dân giao phó, xứng đáng là trụ cột của nền kinh tế đất nước; đóng góp quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc./.